- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22 /2024/HS-ST Ngày 27/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hào; Ông Bùi Thế Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa
- Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn T - Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1989, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Phan T1; Họ tên mẹ: Đậu Thị C; Anh em ruột: có 05(năm) người, bị cáo là con thứ 04(tư) trong gia đình; Vợ: Trần Thị Thu H ( đã ly hôn); Con: Có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2024 đến nay.Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 28/4/2024, tại tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào, bị cáo Phan Văn T gặp một người đàn ông không quen biết, bị cáo T hỏi mua ma túy và đưa cho người đàn ông đó 100.000 đồng thì người đó đưa lại cho bị cáo T 01(một) ống nhựa màu xanh bên trong có chứa 14 (mười bốn) viên nén màu đỏ là ma túy hồng phiến, bị cáo Phan Văn T cầm số ma túy đó bỏ vào bên trong bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON rồi để trong cabin buồng lái của xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc, mang Biển kiểm soát 37H-011.92, kéo theo rơ mooc mang Biển kiểm soát 37R-000.40 do T điều khiển. Khoảng 16 giờ ngày 29/4/2024, bị cáo Phan Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo từ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào để chở quặng về Việt Nam. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo T điều khiển xe ô tô đến khu vực khối E thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác công an huyện C tiến hành dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng công an phát hiện và thu giữ trong cabin buồng lái xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc, mang Biển kiểm soát 37H-011.92, kéo theo rơ mooc mang Biển kiểm soát 37R-000.40 có 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON màu bạc, bên trong có chứa 01(một) ống nhựa màu xanh, trong cùng có chứa 14(mười bốn) viên nén màu đỏ (nghi là ma túy); 01(một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy được làm từ ống nhựa và ống tre. Tổ công tác đã lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa Phan Văn T về trụ sở công an huyện C, tỉnh Nghệ An để làm rõ sự việc.
Tại bản kết luận giám định số 482/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 04/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu viên nén thu giữ của Phan Văn T gửi đến giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine.
- Số viên nén màu đỏ (14 viên) thu giữ của Phan Văn T có tổng có khối lượng là 1,3 gam (một phẩy ba gam).
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan công an huyện C, tỉnh Nghệ An thu giữ 14 viên nén màu đỏ có khối lượng 1,3 gam ma túy Methamphetamine của Phan Văn T và đã lấy 04 viên có khối lượng 0,35 gam ma túy Methamphetamine đi giám định. Số vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 (một) P đã mở niêm phong, 01 (một) ống nhựa màu xanh, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON,10 (mười) viên nén màu đỏ có khối lượng 0,95 gam là ma túy Methamphetamine được bỏ trong bao potylen màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy được làm từ ống nhựa và ống tre.
Đối với xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc - Biển kiểm soát 37H-011.92, kéo theo rơ mooc mang Biển kiểm soát 37R-000.40. Quá trình điều tra xác định xe ô tô là của anh Trần Bảo C1, sinh năm 1999, trú tại K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và không phải là công cụ, phương tiện phạm tội trong vụ án nên ngày 07/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C, tỉnh Nghệ An đã trả lại cho chủ sở hữu.
Cáo trạng số 25/ CT-VKS-CC ngày 10/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù; về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng còn lại của vụ án; xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại hồ sơ là thống nhất, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, tại khu vực khối E thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An, bị cáo Phan Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,3 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện vi phạm vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy cần phải xử phạt thật nghiêm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.
Nhưng xét, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội. Đồng thời xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản và không có thu nhập ổn định.
Quá trình điều tra bị cáo Phan Văn T khai số ma túy bị công an thu giữ là của bị cáo mua của người đàn ông bên nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Hiện cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng: Cơ quan Công an huyện C, tỉnh Nghệ An thu giữ của bị cáo 14 viên nén màu đỏ có khối lượng 1,3 gam ma túy Methamphetamine và đã lấy 04 viên có khối lượng 0,35 gam ma túy Methamphetamine đi giám định. Số vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 (một) P đã mở niêm phong, 01 (một) ống nhựa màu xanh, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON, 10 (mười) viên nén màu đỏ có khối lượng 0,95 gam là ma túy Methamphetamine được bỏ trong bao potylen màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy được làm từ ống nhựa và ống tre là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc, mang Biển kiểm soát 37H-011.92, kéo theo rơ mooc mang Biển kiểm soát 37R-000.40. Quá trình điều tra xác định xe ô tô là của anh Trần Bảo C1, sinh năm 1999, trú tại K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và không phải là công cụ, phương tiện phạm tội trong vụ án nên ngày 07/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C, tỉnh Nghệ An đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 15 ( mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/4/2024.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) P đã mở niêm phong; 01 (một) ống nhựa màu xanh; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON; 10 (mười) viên nén màu đỏ có khối lượng 0,95 gam là ma túy Methamphetamine được bỏ trong bao potylen màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy được làm từ ống nhựa và ống tre. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 26 ngày 10/6/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - CA huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lữ Thị Dung |