- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đối với bị cáo Nguyễn Huy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H (T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 27 tháng 3 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Tại điểm cầu trung tâm, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Ngọc Liêm và ông Võ Lâm Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần, Nhà tạm giữ Công an huyện C:
- Ông Hà Huy P, là Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
- Ông Nguyễn Thị Diễm T, là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Huy H (T1), sinh năm 1978, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị T3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: chưa; bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 24/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1946; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh L và ông Nguyễn Văn H1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã K bắt quả tang Nguyễn Huy H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực tổ A, ấp H, xã K, huyện C. Lực lượng Công an thu giữ một đoạn ống hút nhựa màu cam hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Khi đó, H khai là ma túy mua của người tên Đ (không rõ họ, địa chỉ) với giá 400.000 đồng ở cầu T thuộc xã K, huyện C để sử dụng.
- Vật chứng thu giữ: 01 đoạn ống hút nhựa màu cam, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 xe mô tô biển số 67L1-199.29.
- Kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2170 gam.
Ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố Nguyễn Hồng T4 để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSCM ngày 28 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo bị nghiện, không nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 đoạn ống hút nhựa màu cam, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; giao trả cho ông T2 01 xe mô tô biển số 67L1-199.29.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Nguyễn Huy H khai nhận, khoảng 18 giờ 00 ngày 15/01/2024, bị cáo điều khuển xe mô tô biển số 67L1-199.29 đến khu vực cầu T để mua ma túy. Khi đến nơi, bị can gặp người tên Đ (không rõ họ, địa chỉ), do người tên T5 (không rõ họ, địa chỉ) giới thiệu trước đó, hỏi mua ma túy với giá 400.000 đồng. Bị cáo trả tiền và nhận tấm giấy bạc có chứa ma túy đá bên trong rồi bỏ vào túi quần phía trước đang mặc. Trên đường điều khiển xe mô tô về nhà, đến khu vực gần cổng Phủ thờ Ông B, thuộc ấp H, xã K, bị cáo bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ một đoạn ống hút nhựa màu cam hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất ma túy và các vật chứng khác có liên quan.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra như nội dung Cáo trạng đã nêu trên; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về diễn biến sự việc, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cùng vật chứng được thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, chất tinh thể màu trắng bên trong một đoạn ống hút nhựa thu giữ của bị cáo được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2170 gam.
Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2170 gam.
Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, ma tuý là chất gây nghiện. Một khi đã sử dụng thì khó có thể từ bỏ được. Chúng được xem nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống. Tệ nạn ma tuý còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội.
Bị cáo là người thành niên, đang ở tuổi lao động nhưng lại lao vào con đường nghiện ngập. Để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, trong quá trình điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm của người liên quan:
Bị cáo khai, lượng ma túy bị thu giữ được bị cáo mua của người tên Đ do người tên T5 giới thiệu. Do chưa xác định được họ tên, địa chỉ của những người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
Ông Nguyễn Văn T2 không biết bị cáo sử dụng xe mô tô biển số 67L1-199.29 làm phương tiện mua ma túy. Cho nên, trách nhiệm hình sự không đặt ra với ông T2 là phù hợp quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo là vật cấm lưu hành; 01 đoạn ống hút nhựa màu cam là vật chứa ma túy, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy và 01 đoạn ống hút nhựa bị thu giữ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra giao trả lại cho ông Nguyễn Văn T2 01 xe mô tô biển số 67L1-199.29 là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H (T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt Nguyễn Huy H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, ngày 15/01/2024 (mười lăm, tháng một, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 99/KL-KTHS ngày 20/01/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Đặng Hữu T6. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,1745g (không phẩy một bảy bốn năm gam), theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T2 là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp; - Nhà Tạm giữ Công an huyện C; - CQTHAHS Công an huyện C; - CQĐT Công an huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện C; - Bộ phận THAHS Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |