vanban.org

Bản án 22/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 01/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;

Xử phạt: Phạt tiền đối với Trần Thị T số tiền 60.000.000Đ (Sáu mươi triệu đồng). 1. Tuyên truy thu nộp ngân sách Nhà nước từ Trần Thị T tổng số tiền 801.482.372 Đ (Tám trăm linh một triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn ba trăm bảy mươi hai đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thủy - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 201 của…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO PHONG
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày: 01-8-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG , TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Linh – Thẩm phán sơ cấp, Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Diêng và ông Đỗ Quốc Kỳ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Đạt – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận – Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị T; Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1958; CCCD số: 035158008814;

Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 7/10

Nghề nghiệp: Hưu trí;

Họ tên bố: Trần Doãn K (đã chết); Họ tên mẹ: Trần Thị T1 (đã chết);

Chồng: Không; có 01 con sinh năm 1987;

Gia đình bị can có 6 chị em, bị can là con thứ tư trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2023 đến ngày 01/12/2023;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại được triệu tập có mặt tại phiên tòa.

* Những ngƣời tham gia tố tụng:

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1975 Nơi cư trú: Xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

2. Anh Bùi Văn K1, sinh năm 1982 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

3. Chị Bùi Thị N, sinh năm 1985 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

4. Chị Bùi Thị P (Bùi Thị T2), sinh năm 1979 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

5. Anh Bùi Văn D, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

6. Chị Bùi Thị S, sinh năm 1972 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

7. Chị Bùi Thị C, sinh năm 1968 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

8. Chị Bùi Thị P1, sinh năm 1975 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

9. Anh Bùi Văn C1, sinh năm 1995 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

10. Chị Bùi Thị T3, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

11. Chị Bùi Thị Đ, sinh năm 1971 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

12. Chị Bùi Thị N1, sinh năm 1992 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

13. Chị Bùi Thị G, sinh năm 1961 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

14. Anh Bùi Văn P2, sinh năm 1970 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

15. Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

16. Chị Bùi Thị T4, sinh năm 1993 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

17. Chị Quách Thị T5, sinh năm 1982 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

18. Chị Bùi Thị T6, sinh năm 1985 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

19. Anh Bùi Văn L, sinh năm 1993 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

20. Chị Lò Thị T7, sinh năm 1991 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

21. Anh Bùi Văn L1, sinh năm 1973 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

22. Chị Bùi Thị T8, sinh năm 1978 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

23. Anh Bùi Văn N2, sinh năm 1994 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

24. Chị Bùi Thị C2, sinh năm 1986 Nơi cư trú: Xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

25. Chị Bùi Thị N3, sinh năm 1985 Nơi cư trú: Xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

26. Chị Bùi Thị N4, sinh năm 1993 Nơi cư trú: Xóm B, xã D, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

27. Bà Bùi Thị C3, sinh năm 1963 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

28. Chị Bùi Thị Â, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

29. Anh Bùi Văn D1, sinh năm 1982 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

30. Anh Bùi Văn L2, sinh năm 1984 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

31. Chị Bùi Thị T9, sinh năm 1973 Nơi cư trú: Xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

32. Anh Bùi Văn S1, sinh năm 1982 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

33. Anh Bùi Văn D2, sinh năm 1987 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

34. Chị Bùi Thị N5, sinh năm 1992 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

35. Anh Bùi Duy H2, sinh năm 1979 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

36. Anh Bùi Thị O, sinh năm 1973 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

37. Chị Bùi Thị N6, sinh năm 1973 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

38. Chị Bùi Thị T10, sinh năm 1970 Nơi cư trú: Xóm M, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

39. Chị Bùi Thị T11, sinh năm 2000 Nơi cư trú: Xóm M, xã N, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

40. Chị Bùi Thị T12, sinh năm 1972 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

41. Anh Vũ Văn N7, sinh năm 1990 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

42. Chị Bùi Thị Đ1, sinh năm 1974 Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

43. Chị Bùi Thị N8, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

44. Chị Bùi Thị M, sinh năm 1977 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

45. Chị Bùi Thị N9, sinh năm 1981 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

46. Chị Bùi Thị N10, sinh năm 1972 Nơi cư trú: Xóm Q, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình;

(Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị T sử dụng tiền cá nhân thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi bất chính để lấy tiền tiêu dùng. Khi cho vay tiền, T yêu cầu những người vay tự viết vào sổ với nội dung gồm ngày vay, số tiền vay, lãi suất và thời hạn vay. Tùy từng trường hợp T sẽ yêu cầu người vay để lại giấy tờ làm tin như Chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân, sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lãi suất theo thỏa thuận là 3000đ/1 triệu/ngày tương ứng với mức lãi suất 109,5% vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS) là 5,48 lần. Trên thực tế việc thanh toán tiền lãi, tiền gốc giữa T và những người vay thường không đúng với thời hạn mà người vay ghi trong sổ do đó khi nào người vay thanh toán thì T sẽ tính lãi tương ứng với số ngày đã vay thực tế, đối với khoản vay đã kết thúc T sẽ gạch chéo. Căn cứ vào việc T tính lãi (tính trội hơn hoặc tính giảm đi so với lãi suất thỏa thuận) nên mức lãi suất mà T cho vay dao động từ 100,14%/năm đến 147,59%/ năm tương ứng gấp từ 5,01 lần đến 7,38 lần lãi suất pháp luật quy định. Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến ngày 23/11/2023, Trần Thị T đã cho nhiều người trong và ngoài địa bàn xã H, huyện C vay tiền với lãi suất cao trong đó có 46 người vay đủ căn cứ để xử lý. Cụ thể những người vay như sau:

1. Ngƣời vay thứ 1: Bùi Thị H

Từ ngày 19/10/2023 đến ngày 19/11/2023 (31 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi H đã trả cho T là 465.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000đ x 20%/365 ngày x 31 ngày = 84.932đ. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 465.000 – 84.932 = 380.068đ.

Chị H đã trả tiền gốc cho T.

2. Ngƣời vay thứ 2: Bùi Văn K1

Từ ngày 13/3/2023 đến ngày 27/4/2023 (45 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi K1 đã trả cho T là 1.350.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000đ x 20%/365 ngày x 45 ngày = 246.575đ. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.350.000 – 246.575 = 1.103.425đ.

Anh K1 đã trả tiền gốc cho T.

3. Ngƣời vay thứ 3: Bùi Thị N

Từ ngày 30/6/2023 đến ngày 31/7/2023 (31 ngày), vay số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi N đã trả cho T là 232.500đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS năm 2015 là: 2.500.000đ x 20%/365 ngày x 31 ngày = 42.466 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 232.500 – 42.466 = 190.034đ.

Chị N đã trả tiền gốc cho T.

4. Ngƣời vay thứ 4: Bùi Thị P (Bùi Thị T2)

Vay 8 lần với tổng số tiền là 52.500.000đ (Năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là 721.645 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 3.276.355 đồng. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 26/11/2022 đến ngày 26/12/2022 (30 ngày), vay số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 588.000đ tương ứng mức lãi suất 119,23% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 119,23% : 20% = 5,96 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 6.000.000đ x 20%/365 ngày x 30 ngày = 98.630 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 588.000 – 98.630 = 489.370đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 23/5/2023 đến ngày 22/6/2023 (30 ngày), vay số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 540.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 6.000.000đ x 20%/365 ngày x 30 ngày = 98.630 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 540.000 – 98.630 = 441.370đ.

- Lần thứ ba: Từ ngày 30/6/2023 đến ngày 10/7/2023 (10 ngày), vay số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 180.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 6.000.000 x 20%/365 ngày x 10 ngày = 32.877 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 180.000 – 32.877 = 147.123đ.

- Lần thứ tư: Từ ngày 11/7/2023 đến ngày 29/7/2023 (18 ngày), vay số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 243.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 4.500.000 x 20%/365 ngày x 18 ngày = 44.384 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 243.000 – 44.384 = 198.616đ.

- Lần thứ năm: Từ ngày 24/7/2023 đến ngày 21/8/2023 (28 ngày), vay số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 672.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 8.000.000 x 20%/365 ngày x 28 ngày = 122.740 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 672.000 – 122.740 = 549.260đ.

- Lần thứ sáu: Từ ngày 06/9/2023 đến ngày 06/10/2023 (30 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 900.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000 x 20%/365 ngày x 30 ngày = 164.384 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 900.000 – 164.384 = 735.616đ.

- Lần thứ bảy: Từ ngày 06/10/2023 đến ngày 06/11/2023 (31 ngày), vay số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 650.000đ tương ứng mức lãi suất 109,33% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,33% : 20% = 5,47 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là 7.000.000 x 20%/365 ngày x 31 ngày = 118.904 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 650.000 – 118.904 = 531.096đ.

- Lần thứ tám: Từ ngày 06/11/2023 đến ngày 21/11/2023 (15 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi bà P đã trả cho T là 225.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là 5.000.000 x 20%/365 ngày x 15 ngày = 41.096 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 225.000 – 41.096= 183.904đ.

Chị P đã trả tiền gốc tất cả các lần vay cho T.

5. Ngƣời vay thứ 5: Bùi Văn D

Vay 2 lần với tổng số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 45.480 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 229.520đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 22/6/2023 đến ngày 17/7/2023 (25 ngày), vay số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Số tiền lãi D đã trả cho T là 75.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.000.000 x 20%/365 ngày x 25 ngày = 13.699 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 75.000 – 13.699 = 61.301đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 05/8/2023 đến ngày 02/10/2023 (58 ngày), vay số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Số tiền lãi D đã trả cho T là 200.000đ tương ứng mức lãi suất 125,86% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 125,86% : 20% = 6,29 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.000.000 x 20%/365 ngày x 58 ngày = 31.781 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 200.000 – 31.781 = 168.219 đồng.

Anh D đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

6. Ngƣời vay thứ 6: Bùi Thị S

Từ ngày 15/5/2023 đến ngày 15/7/2023 (61 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi S đã trả cho T là 366.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 61 ngày = 66.849 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 366.000 – 66.849 = 299.151đ.

Chị S đã trả tiền gốc cho T.

7. Ngƣời vay thứ 7: Bùi Thị C

Vay 2 lần với tổng số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 46.575 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 208.425đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 12/5/2023 đến ngày 12/6/2023 (31 ngày), vay số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi C đã trả cho T là 139.500đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.500.000 x 20%/365 ngày x 31 ngày = 25.479 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 139.500 – 25.479 = 114.021đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 12/8/2023 đến ngày 23/8/2023 (11 ngày), vay số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi C đã trả cho T là 115.500đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.500.000 x 20%/365 ngày x 11 ngày = 21.096 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 115.500 – 21.096 = 94.404đ.

Chị C đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

8. Ngƣời vay thứ 8: Bùi Thị P1

Từ ngày 01/8/2023 đến ngày 30/8/2023 (29 ngày), vay số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Số tiền lãi bà P1 đã trả cho T là 87.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.000.000 x 20%/365 ngày x 29 ngày = 15.890 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 87.000 – 15.890 = 71.110đ.

Chị P1 đã trả tiền gốc cho T.

9. Ngƣời vay thứ 9: Bùi Văn C1

Vay 4 lần với tổng số tiền là 24.000.000đ (Hai mươi tư triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 475.890 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 2.129.110đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 01/11/2022 đến ngày 16/12/2022 (45 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi C1 đã trả cho T là 675.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 45 ngày = 123.288 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 675.000 – 123.288 = 551.712đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 13/7/2023 đến ngày 25/7/2023 (12 ngày), vay số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi C1 đã trả cho T là 90.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.500.000 x 20%/365 ngày x 12 ngày = 16.438 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 90.000 – 16.438 = 73.562đ.

- Lần thứ ba: Từ ngày 25/7/2023 đến ngày 02/9/2023 (39 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi C1 đã trả cho T là 1.755.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x 39 ngày = 320.548 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.755.000 – 320.548 = 1.434.452đ.

- Lần thứ tư: Từ ngày 14/8/2023 đến ngày 02/9/2023 (19 ngày), vay số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi C1 đã trả cho T là 85.000đ, tương ứng mức lãi suất 108,86% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 108,86% : 20% = 5,44 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.500.000 x 20%/365 ngày x 19 ngày = 15.616 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 85.000 – 15.616 = 69.384đ.

Anh C1 đã trả tiền gốc tất cả các lần vay cho T.

10. Ngƣời vay thứ 10: Bùi Thị T3

Vay 2 lần với tổng số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 95.891 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 438.109đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 21/6/2023 đến ngày 07/7/2023 (16 ngày), vay số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Số tiền lãi T3 đã trả cho T là 336.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 7.000.000 x 20%/365 ngày x 16 ngày = 61.370 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 336.000 – 61.370 = 274.630đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 19/7/2023 đến ngày 09/8/2023 (21 ngày), vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Số tiền lãi bà T3 đã trả cho T là 198.000đ, tương ứng mức lãi suất 114,71% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 114,71% : 20% = 5,74 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.000.000 x 20%/365 ngày x 21 ngày = 34.521 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 198.000 – 34.521 = 163.479đ.

Chị T3 đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

11. Ngƣời vay thứ 11: Bùi Thị Đặng

Vay 3 lần với tổng số tiền là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 84.932 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 380.068đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 24/5/2023 đến ngày 02/6/2023 (9 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi bà Đ đã trả cho T là 135.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 9 ngày = 24.658 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 135.000 – 24.658 = 110.342đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 01/6/2023 đến ngày 01/7/2023 (30 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi bà Đ đã trả cho T là 180.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 30 ngày = 32.877 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 180.000 – 32.877 = 147.123đ.

- Lần thứ ba: Từ ngày 29/9/2023 đến ngày 24/10/2023 (25 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi bà Đ đã trả cho T là 150.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 25 ngày = 27.397 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 150.000 – 27.397 = 122.603đ.

Chị Đ đã trả tiền gốc tất cả các lần vay cho T.

12. Ngƣời vay thứ 12: Bùi Thị Nhự

Từ ngày 18/01/2023 đến ngày 11/02/2023 (24 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi chị N1 đã trả cho T là 1.080.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x 24 ngày = 197.260 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.080.000 – 197.260 = 882.740đ.

Chị N1 đã trả tiền gốc cho T.

13. Ngƣời vay thứ 13: Bùi Thị Gái

Từ ngày 18/5/2023 đến ngày 21/5/2023 (3 ngày), vay số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Số tiền lãi bà G đã trả cho T là 360.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 40.000.000 x 20%/365 ngày x 3 ngày = 65.753 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 360.000 – 65.753 = 294.247đ.

Chị G đã trả tiền gốc cho T.

14. Ngƣời vay thứ 14: Bùi Văn Phóng

Vay 3 lần với tổng số tiền là 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 283.287 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.267.713đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 24/7/2023 đến ngày 24/10/2023 (92 ngày), vay số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền lãi ông P2 đã trả cho T là 1.104.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 4.000.000 x 20%/365 ngày x 92 ngày = 201.644 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.104.000 – 201.644 = 902.356đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 07/8/2023 đến ngày 04/9/2023 (28 ngày), vay số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Số tiền lãi ông P2 đã trả cho T là 84.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.000.000 x 20%/365 ngày x 28 ngày = 15.342 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 84.000 – 15.342 = 68.658đ.

- Lần thứ ba: Từ ngày 26/9/2023 đến ngày 18/10/2023 (22 ngày), vay số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi ông P2 đã trả cho T là 363.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.500.000 x 20%/365 ngày x 22 ngày = 66.301 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 363.000 – 66.301 = 296.699đ.

Anh P2 đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

15. Ngƣời vay thứ 15: Bùi Văn H1

Vay 3 lần với tổng số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 - BLDS là: 150.685 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 664.315đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 26/12/2022 đến ngày 26/3/2023 (90 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi ông H1 đã trả cho T là 540.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 90 ngày = 98.630 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 540.000 – 98.630 = 441.370đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 26/6/2023 đến ngày 24/7/2023 (28 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi ông H1 đã trả cho T là 168.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 28 ngày = 30.685 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 168.000 – 30.685 = 137.315đ.

- Lần thứ ba: Từ ngày 12/9/2023 đến ngày 21/10/2023 (39 ngày), vay số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Số tiền lãi ông H1 đã trả cho T là 107.000đ, tương ứng mức lãi suất 100,14% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 100,14% : 20% = 5,01 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.000.000 x 20%/365 ngày x 39 ngày = 21.370 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 107.000 – 21.370 = 85.630đ.

Anh H1 đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

16. Ngƣời vay thứ 16: Bùi Thị T4

Vay 2 lần với tổng số tiền là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 589.041 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 2.635.959đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 18/9/2023 đến ngày 22/9/2023 (4 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi chị T4 đã trả cho T là 120.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000 x 20%/365 ngày x 4 ngày = 21.918 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 120.000 – 21.918 = 98.082đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 12/11/2023 đến ngày 21/11/2023 (9 ngày), vay số tiền 115.000.000đ (Một trăm mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi chị T4 đã trả cho T là 3.105.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 115.000.000 x 20%/365 ngày x 9 ngày = 567.123 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 3.105.000 – 567.123 = 2.537.877đ.

Chị T4 đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

17. Ngƣời vay thứ 17: Quách Thị Thao

Từ ngày 24/10/2023 đến ngày 17/11/2023 (24 ngày), vay số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền lãi chị T5 đã trả cho T là 288.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 4.000.000 x 20%/365ngay x 24 ngày = 52.603 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 288.000 – 52.603 = 235.397đ.

Chị T5 đã trả tiền gốc cho T.

18. Ngƣời vay thứ 18: Bùi Thị T6

Vay 4 lần với tổng số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 78.355 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 350.645đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 08/01/2023 đến ngày 20/01/2023 (12 ngày), vay số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền lãi chị T6 đã trả cho T là 144.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 4.000.000 x 20%/365 ngày x 12 ngày = 26.301 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 144.000 – 26.301 = 117.699đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 04/5/2023 đến ngày 14/5/2023 (10 ngày), vay số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Số tiền lãi chị T6 đã trả cho T là 30.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.000.000 x 20%/365 ngày x 10 ngày = 5.479 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 30.000 – 5.479 = 24.521đ.

- Lần thứ ba: Từ ngày 14/5/2023 đến ngày 31/5/2023 (17 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi chị T6 đã trả cho T là 102.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 17 ngày = 18.630 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 102.000 – 18.630 = 83.370đ.

- Lần thứ tư: Từ ngày 01/6/2023 đến ngày 18/6/2023 (17 ngày), vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Số tiền lãi chị T6 đã trả cho T là 153.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.000.000 x 20%/365 ngày x 17 ngày = 27.945 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 153.000 – 27.945 = 125.055đ.

Chị T6 đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

19. Ngƣời vay thứ 19: Bùi Văn L

Từ ngày 13/10/2023 đến ngày 28/10/2023 (15 ngày), vay số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi anh L đã trả cho T là 157.500đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.500.000 x 20%/365 ngày x 15 ngày = 28.767 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 157.500 – 28.767 = 128.733đ.

Anh L3 đã trả tiền gốc cho T.

20. Ngƣời vay thứ 20: Lò Thị Thắm

Từ ngày 21/11/2022 đến ngày 24/12/2022 (33 ngày), vay số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Số tiền lãi chị T7 đã trả cho T là 792.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 8.000.000 x 20%/365 ngày x 33 ngày = 144.658 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 792.000 – 144.658 = 647.342đ.

Chị T7 đã trả tiền gốc cho T.

21. Ngƣời vay thứ 21: Bùi Văn L1

Từ ngày 04/5/2023 đến ngày 04/11/2023 (184 ngày), vay số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Số tiền lãi ông L1 đã trả cho T là 3.312.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 6.000.000 x 20%/365 ngày x 184 ngày = 604.932 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 3.312.000 – 604.932 = 2.707.068đ.

Anh L1 đã trả tiền gốc cho T.

22. Ngƣời vay thứ 22: Bùi Thị Thúy

Từ ngày 19/01/2023 đến ngày 17/5/2023 (118 ngày), vay số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Số tiền lãi chị T8 đã trả cho T là 7.080.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 20.000.000 x 20%/365 ngày x 118 ngày = 1.293.151 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 7.080.000 – 1.293.151 = 5.786.849đ.

Chị T8 đã trả tiền gốc cho T.

23. Ngƣời vay thứ 23: Bùi Văn N2

Từ ngày 28/9/2023 đến ngày 30/10/2023 (32 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi anh N2 đã trả cho T là 180.000đ, tương ứng mức lãi suất 102,66% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 102,66% : 20% = 5,13 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 32 ngày = 35.068 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 180.000 – 35.068 = 144.932đ.

Anh N2 đã trả tiền gốc cho T.

24. Ngƣời vay thứ 24: Bùi Thị Chuyền

Từ ngày 10/7/2023 đến ngày 09/10/2023 (91 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi chị C2 đã trả cho T là 1.365.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 91 ngày = 249.315 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.365.000 – 249.315 = 1.115.685đ.

Chị C2 đã trả tiền gốc cho T.

25. Ngƣời vay thứ 25: Bùi Thị N3

Vay 2 lần với tổng số tiền là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 232.876 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.042.124 đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 10/7/2023 đến ngày 09/10/2023 (23 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi chị N3 đã trả cho T là 690.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000 x 20%/365 ngày x 23 ngày = 126.027 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 690.000 – 126.027 = 563.973đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 02/8/2023 đến ngày 15/8/2023 (13 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi chị N3 đã trả cho T là 585.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x 13 ngày = 106.849 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 585.000 – 106.849 = 478.151đ.

Chị N3 đã trả tiền gốc các lần vay cho T.

26. Ngƣời vay thứ 26: Bùi Thị N4

Từ ngày 22/12/2022 đến ngày 26/6/2023 (186 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi chị N4 đã trả cho T là 2.790.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 186 ngày = 509.589 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 2.790.000 – 509.589 = 2.280.411đ.

Chị N4 đã trả tiền gốc cho T.

27. Ngƣời vay thứ 27: Bùi Thị Cúc

Từ ngày 19/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (4 ngày), vay số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền lãi C3 sẽ phải trả cho T là 15.600đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.300.000 x 20%/365 ngày x 4 ngày = 2.849 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính hướng tới là: 15.600 – 2.849 = 12.751đ.

Chị C3 đã trả tiền gốc cho T và không trả lãi.

28. Ngƣời vay thứ 28: Bùi Thị Â

Vay 2 lần với tổng số tiền là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 12.603 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 80.397đ, số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là 44.137 đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 31/10/2023 đến ngày 23/11/2023 (23 ngày), vay số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Số tiền lãi bà Â đã trả cho T là 93.000đ, tương ứng mức lãi suất 147,59% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 147,59% : 20% = 7,38 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.000.000 x 20%/365 ngày x 23 ngày = 12.603 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 93.000 – 12.603 = 80.397đ.

Chị Â đã trả tiền gốc cho T.

- Lần thứ hai: Từ ngày 20/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (3 ngày), vay số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Số tiền lãi bà Â sẽ phải trả cho T là 54.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 6.000.000 x 20%/365 ngày x 3 ngày = 9.863 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hướng tới là: 54.000 – 9.863 = 44.137đ.

Chị Â đã trả tiền gốc cho T sau ngày bị phát hiện và không trả lãi.

29. Ngƣời vay thứ 29: Bùi Văn D1

Từ ngày 30/8/2023 đến ngày 23/11/2023 (85 ngày), vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Số tiền lãi anh D1 đã trả cho T là 570.000đ (61 ngày từ 30/8/2023 đến 30/10/2023) tương ứng mức lãi suất 113,69% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 113,69% : 20% = 5,68 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.000.000 x 20%/365 ngày x 61 ngày = 100.274 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 570.000 – 100.274 = 469.726đ, số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới (24 ngày từ 30/10/2023 đến 23/11/2023) là 176.548đ.

Anh D1 hiện chƣa trả tiền gốc cho T.

30. Ngƣời vay thứ 30: Bùi Văn L2

Vay 2 lần với tổng số tiền là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 374.795 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.625.205đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 24/8/2023 đến ngày 25/9/2023 (32 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi anh L2 đã trả cho T là 1.440.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x 32 ngày = 263.014 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 1.440.000 – 263.014 = 1.176.986đ.

- Lần thứ hai: Từ ngày 11/10/2023 đến ngày 14/11/2023 (34 ngày), vay số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Số tiền lãi anh L2 đã trả cho T là 560.000đ, tương ứng mức lãi suất 100,2% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 100,2% : 20% = 5,01 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 6.000.000 x 20%/365 ngày x 34 ngày = 111.781 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính là: 560.000 – 111.781 = 448.219đ.

Anh L2 đã trả 8.000.000đ tiền gốc cho T (không nhớ ngày trả); còn lại tiền gốc 13.000.000đ chƣa trả.

31. Ngƣời vay thứ 31: Bùi Thị T9

Vay 5 lần với tổng số tiền là 38.000.000đ (Ba mươi tám triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 548.493 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 2.454.507đ, số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là 711.096đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 20/01/2023 đến ngày 13/02/2023 (24 ngày), vay số tiền 13.500.000đ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi chị T9 đã trả cho bị cáo là 972.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà bị cáo được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 13.500.000 x 20%/365 ngày x 24 ngày = 177.534 đồng. Số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính là: 972.000 – 177.534 = 794.466đ.

Chị T9 đã trả tiền gốc cho bị cáo.

- Lần thứ hai: Từ ngày 13/4/2023 đến ngày 09/5/2023 (26 ngày), vay số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền lãi chị T9 đã trả cho T9 là 312.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 4.000.000 x 20%/365 ngày x 26 ngày = 56.986 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 312.000 – 56.986 = 255.014đ.

Chị T9 đã trả tiền gốc cho bị cáo.

- Lần thứ ba: Từ ngày 09/5/2023 đến ngày 07/6/2023 (29 ngày), vay số tiền 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Số tiền lãi chị T9 đã trả cho T9 là 783.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 9.000.000 x 20%/365 ngày x 29 ngày = 143.014 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 783.000 – 143.014 = 639.986đ.

Chị T9 đã trả tiền gốc cho bị cáo.

- Lần thứ 4: Từ ngày 25/7/2023 đến ngày 02/8/2023 (8 ngày), vay số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi chị T9 đã trả cho T9 là 36.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.500.000 x 20%/365 ngày x 8 ngày = 6.575 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 36.000 – 6.575 = 29.425đ.

Chị T9 đã trả tiền gốc cho bị cáo.

- Lần thứ 5: Từ ngày 25/9/2023 đến ngày 23/11/2023 (59 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi chị T9 đã trả cho T9 là 900.000đ (30 ngày, từ 25/9/2023 đến 25/10/2023), tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000 x 20%/365 ngày x 30 ngày = 164.384 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 900.000 – 164.384 = 735.616đ, số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới (29 ngày, từ ngày 25/10/2023 đến ngày bị phát hiện 23/11/2023) là 711.096đ.

Chị T9 còn nợ 5.000.000đ tiền gốc.

32. Ngƣời vay thứ 32: Bùi Văn S1

Vay 3 lần với tổng số tiền là 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất theo điều 468 BLDS là: 266.301đ. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.191.699đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 12/9/2023 đến ngày 25/9/2023 (13 ngày), vay số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền lãi anh S1 đã trả cho T9 là 156.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 4.000.000 x 20%/365 ngày x 13 ngày = 28.493 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 156.000 – 28.493 = 127.507đ.

Anh S1 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 25/9/2023 đến ngày 08/10/2023 (13 ngày), vay số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Số tiền lãi anh S1 đã trả cho T9 là 312.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 8.000.000 x 20%/365 ngày x 13 ngày = 56.986 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 312.000 – 56.986 = 255.014đ.

Anh S1 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ ba: Từ ngày 08/10/2023 đến ngày 07/11/2023 (30 ngày), vay số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). Số tiền lãi anh S1 đã trả cho T9 là 990.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 11.000.000 x 20%/365 ngày x 30 ngày = 180.822 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 990.000 – 180.822 = 809.178đ. Đã trả 1.000.000đ tiền gốc nhưng không nhớ ngày nào.

Hiện anh S1 còn nợ T9 10.000.000đ tiền gốc.

33. Ngƣời vay thứ 33: Bùi Văn D2

Vay 2 lần với tổng số tiền là 24.581.000đ (Hai mươi tư triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 - BLDS năm 2015 là: 505.811 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 2.685.189đ; Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là: 1.694.778đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 19/3/2023 đến ngày 21/4/2023 (33 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi anh D2 đã trả cho T9 là 1.890.000đ, tương ứng mức lãi suất 139,36% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 139,36% : 20% = 6,97 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x 33 ngày = 271.233 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.890.000 – 271.233 = 1.618.767đ và trả 8.000.000đ tiền gốc còn nợ lại 7.000.000đ. Từ ngày 21/4/2023 đến ngày 12/6/2023 (52 ngày), anh D2 phải trả T9 1.281.000đ tiền lãi, tiền lãi T9 sẽ được hưởng theo quy định là 199.452đ, tiền thu lợi bất chính là 1.081.548đ nhưng thực tế Dỉnh mới trả được 700.000đ (tương đương 33 ngày, lãi suất theo quy định mà T9 được hưởng là 126.575đ, thu lợi bất chính là 574.425đ) nên còn 581.000đ Dỉnh và T9 thỏa thuận cộng vào gốc thành 7.581.000đ. Từ 12/6/2023 đến 13/7/2023 (31 ngày), T9 tính lãi trên khoản vay 7.581.000đ là 705.000đ (đã làm tròn), tiền lãi T9 sẽ được hưởng theo quy định là 128.773đ, tiền thu lợi bất chính là 576.227đ nhưng thực tế anh D2 mới trả 600.000đ tiền lãi (tương đương 26 ngày, lãi suất theo quy định T9 được hưởng là 108.003đ, thu lợi bất chính là 491.997đ) còn 105.000đ tiền lãi T9 cộng vào gốc 7.581.000đ thành 7.686.000đ. Từ 13/7/2023 đến 22/8/2023 (40 ngày), T9 tính lãi trên khoản vay 7.686.000đ là 731.000đ tương ứng mức lãi suất 86,79% gấp 4,34 lần (dưới 5 lần) lãi suất cao nhất theo quy định nên không xem xét. Sau đó do T9 không ghi rõ nên không có căn cứ xác định tiền lãi T9 đã tính với D2. T9 xác nhận khoản vay này đã được thanh toán.

- Lần thứ hai: Từ ngày 04/10/2023 đến ngày 23/11/2023 (tính đến thời điểm bị phát hiện, 50 ngày), vay số tiền 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Số tiền lãi anh D2 sẽ phải trả cho T9 là 1.350.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 9.000.000 x 20%/365 ngày x 50 ngày = 246.575 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là: 1.350.000 – 246.575 = 1.103.425đ.

Dỉnh chƣa trả tiền gốc 9.000.000đ và lãi đối với khoản vay này cho T9.

34. Ngƣời vay thứ 34: Bùi Thị N5

Vay 3 lần với tổng số tiền là 49.000.000đ (Bốn mươi chín triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 828.493 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 3.707.507đ, số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là 735.616đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 04/6/2023 đến ngày 16/7/2023 (42 ngày), vay số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Số tiền lãi N5 đã trả cho T9 là 2.520.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 20.000.000 x 20%/365 ngày x 42 ngày = 460.274 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 2.520.000 – 460.274 = 2.059.726đ và trả 6.000.000đ tiền gốc còn 14.000.000đ. Số tiền lãi chị N5 đã trả T9 là 756.000đ (18 ngày, từ 16/7/2023 đến 03/8/2023), tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 14.000.000 x 20%/365 ngày x 18 ngày = 138.082 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 756.000 – 138.082 = 617.918đ.

Chị N5 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 04/9/2023 đến ngày 04/10/2023 (30 ngày), vay số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng). Số tiền lãi chị N5 đã trả cho T9 là 1.260.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 14.000.000 x 20%/365 ngày x 30 ngày = 230.137 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.260.000 – 230.137 = 1.029.863đ.

Chị N5 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ ba: Từ ngày 03/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (20 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi chị N5 sẽ phải trả cho T9 là 900.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x20 ngày = 164.384 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hướng tới là: 900.000 – 164.384 = 735.616đ.

Chị N5 chƣa trả gốc 15.000.000đ và lãi khoản vay này cho T9.

35. Ngƣời vay thứ 35: Bùi Duy H2

Vay 2 lần với tổng số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 334.247 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.495.753đ. Số tiền thu lợi bất chính hướng tới là 98.082đ. Trong đó:

- Lần vay thứ nhất: Từ ngày 15/4/2023 đến ngày 15/8/2023 (122 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi ông H2 trả cho T9 là 1.830.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 22 ngày = 334.247 đồng. Số tiền đã thu lợi bất chính là: 1.830.000 – 334.247 = 1.495.753đ.

Ông H2 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần vay thứ hai: Từ ngày 15/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (8 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi ông H2 sẽ phải trả cho T9 là 120.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 8 ngày = 21.918 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hướng tới là: 120.000 – 21.918 = 98.082đ.

Ông H2 chƣa trả gốc 5.000.000đ và lãi khoản vay này cho T9.

36. Ngƣời vay thứ 36: Bùi Thị Oanh

Từ ngày 23/8/2023 đến ngày 01/9/2023 (9 ngày), vay số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). Số tiền lãi bà O phải trả cho T9 là 297.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 11.000.000 x 20%/365 ngày x 9 ngày = 54.247 đồng. Số tiền nhằm thu lợi bất chính là: 297.000 – 54.247 = 242.753đ. Thực tế bà O chưa trả số tiền lãi này nên T9 cộng với số tiền gốc và số tiền vay thêm thành 13.000.000đ. Đối với khoản vay này, bà O và T9 thỏa thuận không tính lãi nên không xem xét. Như vậy số tiền gốc T9 đã cho bà O vay tính lãi là 11.000.000đ.

Hiện nay bà O chƣa trả số tiền gốc 11.000.000đ cho T9.

37. Ngƣời vay thứ 37: Bùi Thị Núi

Từ ngày 16/11/2022 đến ngày 23/8/2023 bà N6 vay với mức lãi suất là 3000đ/1 triệu/ngày. Do bà N6 không có khả năng trả gốc và lãi nên T9 và bà N6 thỏa thuận cộng dồn lãi với gốc để tính lãi lần tiếp theo:

Từ ngày 16/11/2022 đến ngày 23/11/2022 (7 ngày), vay số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Số tiền lãi bà N6 phải trả cho T9 là 600.000đ, tương ứng mức lãi suất 104,29% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 104,29% : 20% = 5,21 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 30.000.000 x 20%/365 ngày x 7 ngày = 115.068 đồng. Số tiền T9 thu lợi bất chính là: 600.000 – 115.068 = 484.932đ. Do bà N6 không có tiền để trả tiền gốc, tiền lãi nên T9 đã cộng số tiền lãi 600.000đ vào khoản vay 30.000.000đ thành 30.600.000đ và bà N6 vay thêm 5.000.000đ. Tổng thành 35.600.000đ, đến ngày 13/01/2023 (51 ngày, 23/11/2022 đến 13/01/2023) T9 tính lãi của khoản vay này là 5.447.000đ (tương đương mức lãi suất 109,5% vượt quá 5,48 lần lãi suất quy định) tiền lãi T9 sẽ được hưởng theo quy định là 994.849đ, tiền thu lợi bất chính là 4.452.151đ) nhưng bà N6 vẫn không có tiền trả gốc và lãi nên T9 lại cộng lãi với gốc thành 41.047.000đ và bà N6 tiếp tục vay thêm 9.953.000đ thành 51.000.000đ. Tương tự như vậy, đến ngày 31/01/2023 (18 ngày, từ 13/01/2023 đến 31/01/2023) T9 tiếp tục tính lãi của khoản vay 51.000.000đ là 2.754.000đ tiền lãi (tương đương mức lãi suất 109,5% vượt quá 5,48 lần lãi suất quy định) tiền lãi T9 sẽ được hưởng theo quy định là 503.014đ, tiền thu lợi bất chính là 2.250.986đ, T9 cộng gốc với lãi và bà N6 vay thêm 6.246.000đ thành 60.000.000đ. Đến ngày 12/02/2023 (13 ngày, từ 31/01/2023 đến 12/02/2023), T9 tính lãi 2.260.000đ (tương đương mức lãi suất 105,76% vượt quá 5,29 lần lãi suất quy định, tiền lãi T9 sẽ được hưởng theo quy định là 427.397đ, tiền thu lợi bất chính là 1.865.479đ) và trừ 400.000đ tiền lãi bà N6 đã trả trước đó (tương đương 2 ngày, lãi suất theo quy định mà T9 được hưởng là 65.753đ, thu lợi bất chính là 334.247đ) còn 1.860.000đ tiền lãi T9 tiếp tục cộng vào gốc 60.000.000đ và bà N6 vay thêm 20.000.000đ thành 81.860.000đ. Đến ngày 19/3/2023 (35 ngày, từ 12/02/2023 đến 19/3/2023) T9 tính lãi của khoản vay là 9.081.000đ (tương đương mức lãi suất 115.69% vượt quá 5,78 lần lãi suất quy định, tiền lãi T9 sẽ được hưởng theo quy định là 1.569.918đ, tiền thu lợi bất chính là 7.511.082đ), trừ đi 5.000.000đ tiền lãi bà N6 đã trả (tương đương 20 ngày, lãi suất theo quy định mà T9 được hưởng là 897.096đ, thu lợi bất chính là 4.102.904đ) còn 4.081.000đ, T9 tiếp tục cộng vào gốc và tiền bà N6 vay thêm 4.100.000đ thành 90.000.000đ. Đến ngày 28/3/2023 (9 ngày, từ 19/3/2023 đến 28/3/2023) T9 tính lãi của khoản vay là 2.430.000đ (tương đương mức lãi suất 109,5% vượt quá 5,48 lần lãi suất quy định, tiền lãi T9 sẽ được hưởng theo quy định là 443.836đ, tiền thu lợi bất chính là 1.986.164đ), cộng với gốc và số tiền bà N6 vay thêm 19.570.000đ thành 112.000.000đ. Do bà N6 không có khả năng trả nên T9 không tính lãi đối với khoản vay này và yêu cầu bà N6 trả tiền gốc là 112.000.000đ.

Như vậy tổng số tiền gốc mà T9 cho bà N6 vay có tính lãi là 90.000.000đ, bà N6 đã trả cho T9 tổng 5.400.000đ tiền lãi, lãi suất theo quy định T9 được hưởng là 962.849đ, đã thu lợi bất chính là 4.437.151đ, thu lợi bất chính hƣớng tới 14.113.643đ.

Hiện nay bà N6 chƣa trả số tiền gốc 90.000.000đ cho T9.

38. Ngƣời vay thứ 38: Bùi Thị Thân

Từ ngày 15/9/2023 đến ngày 23/11/2023 (69 ngày), vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Số tiền lãi bà T10 đã trả cho T9 là 550.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm (61 ngày, từ ngày 15/9/2023 đến ngày 15/11/2023). Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.000.000 x 20%/365 ngày x 61 ngày = 100.274 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 550.000 – 100.274 = 449.726đ; số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới (9 ngày từ ngày 15/11/2023 đến ngày bị phát hiện 23/11/2023) là: 58.849đ.

Bà T10 chƣa trả số tiền gốc 3.000.000đ và lãi cho T9.

39. Ngƣời vay thứ 39: Bùi Thị T11

Vay 2 lần với tổng số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 157.123 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 747.877đ; số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là 7.356đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 04/9/2023 đến ngày 04/11/2023 (61 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi chị T11 đã trả cho T9 là 366.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 61 ngày = 66.849 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 366.000 – 66.849 = 299.151đ.

Chị T11 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 22/9/2023 đến ngày 23/11/2023 (62 ngày), vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Số tiền lãi chị T11 đã trả cho T9 là 549.000đ (61 ngày từ 22/9/2023 đến 22/11/2023) tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.000.000 x 20%/365 ngày x 61 ngày = 100.274 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 549.000 – 100.274 = 448.726đ, số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới (1 ngày từ 22/11/2023 đến 23/11/2023) là 7.356đ.

Chị T11 đã trả 2.000.000đ tiền gốc còn nợ 1.000.000đ.

40. Ngƣời vay thứ 40: Bùi Thị T12

Vay 3 lần với tổng số tiền là 31.000.000đ (Ba mươi mốt triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 273.972đ. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.226.028đ; số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới: 29.425đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 10/11/2022 đến ngày 10/12/2022 (30 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi bà T12 đã trả cho T9 là 1.350.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x 30 ngày = 246.575 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.350.000 – 246.575 = 1.103.425đ.

Chị T12 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 16/01/2023 đến ngày 21/01/2023 (5 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi bà T12 đã trả cho T9 là 150.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000 x 20%/365 ngày x 5 ngày = 27.397 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 150.000 – 27.397 = 122.603đ.

Chị T12 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ ba: Từ ngày 21/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (2 ngày), vay số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Số tiền lãi bà T12 sẽ phải trả cho T9 là 36.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 6.000.000 x 20%/365 ngày x 2 ngày = 6.575 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là: 36.000 – 6.575 = 29.425đ.

Chị T12 chƣa trả tiền gốc 6.000.000đ và lãi đối với khoản vay này.

41. Ngƣời vay thứ 41: Vũ Văn N7

Vay 4 lần với tổng số tiền là 34.000.000đ (Ba mươi tư triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 1.136.986 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 4.957.014 đồng; số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là 465.890đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 24/10/2022 đến ngày 24/11/2022 (31 ngày), vay số tiền 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng). Số tiền lãi N7 đã trả cho T9 là 1.580.000đ tương ứng mức lãi suất 109,43% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,43% : 20% = 5,47 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 17.000.000 x 20%/365 ngày x 31 ngày = 288.767 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.580.000 – 288.767 = 1.291.233đ.

Anh N7 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 02/01/2023 đến ngày 13/01/2023 (11 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi N7 đã trả cho T9 là 330.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000 x 20%/365 ngày x 11 ngày = 60.274 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 330.000 – 60.274 = 269.726đ.

Anh N7 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ ba: Từ ngày 12/3/2023 đến ngày 15/4/2023 (34 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi N7 đã trả cho T9 là 204.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 34 ngày = 37.260 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 204.000 – 37.260 = 166.740đ.

Anh N7 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ tư: Từ ngày 15/01/2023 đến ngày 23/11/2023 (312 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi N7 đã trả cho T9 là 3.980.000đ (274 ngày, từ 15/01/2023 đến 16/10/2023) tương ứng mức lãi suất 109,64% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,64% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 274 ngày = 750.685 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 3.980.000 – 750.685 = 3.229.315đ; số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới (38 ngày từ 16/10/2023 đến ngày bị phát hiện 23/11/2023) là 465.890đ.

Hiện N7 chƣa trả tiền gốc 5.000.000đ đối với khoản vay này.

42. Ngƣời vay thứ 42: Bùi Thị Đ1

Vay 4 lần với tổng số tiền là 27.000.000đ (Hai mươi bảy triệu đồng). Đã trả 16.000.000đ tiền gốc còn lại 11.000.000đ. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 72.329 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 323.671đ. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới: 409.493đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 09/9/2023 đến ngày 16/9/2023 (7 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi bà Đ1 đã trả cho T9 là 105.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 7 ngày = 19.178 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 105.000 – 19.178 = 85.822đ.

Bà Đ1 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 20/9/2023 đến ngày 27/9/2023 (7 ngày), vay số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi bà Đ1 đã trả cho T9 là 105.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 5.000.000 x 20%/365 ngày x 7 ngày = 19.178 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 105.000 – 19.178 = 85.822đ.

Bà Đ1 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ ba: Từ ngày 22/10/2023 đến ngày 23/11/2023 (32 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi bà Đ1 đã trả cho T9 là 186.000đ (31 ngày từ 22/10/2023 đến 22/11/2023) tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 31 ngày = 33.973 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 186.000 – 33.973 = 152.027đ; số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới (1 ngày, từ 22/11/2023 đến ngày bị phát hiện 23/11/2023) là 4.904 đ.

Hiện bà Đ1 chƣa trả tiền gốc 2.000.000đ cho T9.

- Lần thứ tư: Từ ngày 12/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (11 ngày), vay số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Số tiền lãi bà Đ1 sẽ phải trả cho T9 là 495.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 15.000.000 x 20%/365 ngày x 11 ngày = 90.411 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là: 495.000 – 40.411 = 404.589đ.

Bà Đ1 đã trả 6.000.000đ tiền gốc còn nợ 9.000.000đ và chƣa thanh toán lãi khoản vay này.

43. Ngƣời vay thứ 43: Bùi Thị N8

Vay 2 lần với tổng số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là 32.877 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 147.123đ. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới: 161.836đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 09/9/2023 đến ngày 09/10/2023 (30 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi N8 đã trả cho T9 là 180.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 30 ngày = 32.877 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 180.000 – 32.877 = 147.123đ.

Bà N8 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ 2: Từ ngày 01/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (22 ngày), vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Số tiền lãi bà N8 sẽ phải trả cho T9 là 198.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 3.000.000 x 20%/365 ngày x 22 ngày = 36.164 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là: 198.000 – 36.164 = 161.836đ.

Bà N8 đã trả tiền gốc đối với khoản vay này, không trả lãi.

44. Ngƣời vay thứ 44: Bùi Thị M (Chồng là Bùi Văn D3)

Vay 4 lần với tổng số tiền 55.300.000đ (Năm mươi lăm triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là 571.616 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 2.557.384đ. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới: 42.911đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 26/12/2022 đến ngày 23/02/2023 (59 ngày), vay số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Số tiền lãi bà M đã trả cho T9 là 1.416.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 8.000.000 x 20%/365 ngày x 59 ngày = 258.630 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.416.000 – 258.639 = 1.157.370đ.

Bà M đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 15/7/2023 đến ngày 17/8/2023 (33 ngày), vay số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Số tiền lãi bà M đã trả cho T9 là 693.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 7.000.000 x 20%/365 ngày x 33 ngày = 126.575 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 693.000 – 126.575 = 566.425đ.

Bà M đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ ba: Từ ngày 19/8/2023 đến ngày 28/8/2023 (9 ngày), vay số tiền 37.800.000đ (Ba mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền lãi bà M đã trả cho T9 là 1.020.000đ tương ứng mức lãi suất 109,44% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,44% : 20% = 5,47 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 37.800.000 x 20%/365 ngày x 9 ngày = 186.411 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 1.020.000 – 186.411 = 833.589đ.

Bà M đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ tư: Từ ngày 16/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (07 ngày), vay số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền lãi bà M sẽ phải trả cho T9 là 52.500đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.500.000 x 20%/365 ngày x 7 ngày = 9.589 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là: 52.500 – 9.589 = 42.911đ.

Bà M đã trả tiền gốc sau ngày T9 bị phát hiện và không trả lãi.

45. Ngƣời vay thứ 45: Bùi Thị N9

Chị N9 vay T9 3 lần với tổng số tiền là 112.000.000đ (Một trăm mười hai triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 536.987đ. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 2.403.013đ. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới: 68.658đ. Trong đó:

- Lần vay thứ nhất: Từ ngày 16/10/2023 đến 25/10/2023 (9 ngày), vay số tiền 106.000.000đ (Một trăm linh sáu triệu đồng). Số tiền lãi N9 đã trả cho T9 là 2.862.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 106.000.000 x 20%/365 ngày x 9 ngày = 522.740 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 2.862.000 – 522.740 = 2.339.260đ.

Bà N9 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần vay thứ 2: Từ ngày 03/11/2023 đến 16/11/2023 (13 ngày), vay số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền lãi N9 đã trả cho T9 là 78.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 2.000.000 x 20%/365 ngày x 13 ngày = 14.247 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 78.000 – 14.247 = 63.753đ.

Bà N9 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần vay thứ 3: Từ ngày 16/11/2023 đến 23/11/2023 (7 ngày), vay số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền lãi N9 phải trả cho T9 là 84.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 4.000.000 x 20%/365 ngày x 7 ngày = 15.342 đồng. Số tiền thu lợi bất chính T9 hƣớng tới là: 84.000 – 15.342 = 68.658đ.

Bà N9 chƣa trả tiền gốc 4.000.000đ và lãi khoản vay này cho T9.

46. Ngƣời vay thứ 46: Bùi Thị N10

Vay 2 lần với tổng số tiền 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng). Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 32.877đ. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 147.123đ. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới: 49.041đ. Trong đó:

- Lần thứ nhất: Từ ngày 05/11/2023 đến ngày 10/11/2023 (05 ngày), vay số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng). Số tiền lãi N10 đã trả cho T9 là 180.000đ tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 12.000.000 x 20%/365 ngày x 5 ngày = 32.877 đồng. Số tiền T9 đã thu lợi bất chính là: 180.000 – 32.877 = 147.123đ.

Bà N10 đã trả tiền gốc cho T9.

- Lần thứ hai: Từ ngày 21/11/2023 đến ngày 23/11/2023 (02 ngày), vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền lãi bà N10 sẽ phải trả cho T9 là 60.000đ, tương ứng mức lãi suất 109,5% /năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong BLDS là: 109,5% : 20% = 5,48 lần. Số tiền lãi hợp pháp mà T9 sẽ được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 BLDS là: 10.000.000 x 20%/365 ngày x 2 ngày = 10.959 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hƣớng tới là: 60.000 – 10.959 = 49.041đ.

Bà N10 đã trả tiền gốc đối với khoản vay này sau ngày T9 bị phát hiện, không trả lãi.

Như vậy Trần Thị T đã cho 46 người vay với tổng số tiền là 979.181.000đ (Chín trăm bảy mươi chín triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn đồng) trong đó đã thu được gốc là 788.181.000đ; số tiền gốc chưa thu được là 191.000.000đ. Số tiền lãi hợp pháp đã thu là 13.301.372Đ (Mười ba triệu ba trăn linh một nghìn ba trăm bảy mươi hai đồng). Số tiền nhằm thu lợi bất chính là 79.118.491đ (Bảy mươi chín triệu, một trăm mười tám nghìn, bốn trăm chín mươi mốt đồng) trong đó số tiền đã thu lợi bất chính là 59.995.628Đ (Năm mươi chín triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng).

Ngày 23/11/2023 Cơ quan CSĐT – Công an huyện C nhận được đơn trình báo về việc Trần Thị T đã cho vay vượt quá lãi suất quy định nên đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở của Trần Thị T. Quá trình khám xét đã thu giữ:

- 02 quyển sổ ghi chép của Trần Thị T trong quá trình cho vay tiền trong đó 01 quyển sổ có bìa màu trắng có dòng chữ PATTERNS (được đánh số từ 01 đến 173) và 01 quyển sổ không có bìa (được đánh số từ 01 đến 78).

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Văn M1 sinh năm 1981 và Bùi Thị N9 sinh năm 1981, số AD 845793.

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Văn C4 số R356526.

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Văn D3 sinh năm 1977 và Bùi Thị M sinh năm 1977 số AD 845791.

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Văn D2 sinh năm 1987 số DE 108845

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đát mang tên Trần Thị Thủy sinh năm 1948 số BI 514759.

- 01 Chứng minh nhân dân tên Bùi Thị T9 số 113296211.

- 01 Chứng minh nhân dân tên Bùi Văn R số 241965085 (bị cắt góc).

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Văn L1 số 017073004356.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị N10 số 017172001396.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Văn L2 số 017084004504.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị M2 số 017191010271

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị K2 số 017181001847.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị N5 số 017192009107.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Văn S1 số 017082003887.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị T10 số 017170006359.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị N8 số 017176001625.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị Đ1 số 017174001454.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị T12 số 017172001399.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị V2 số 017155004143.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị N9 số 017181008175.

- 01 Căn cước công dân tên Bùi Thị Â số 017176001629.

- 01 sổ hộ khẩu, tên chủ hộ: Bùi Văn M3.

- 01 sổ hộ khẩu, tên chủ hộ: Bùi Văn T13

- 101 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng loại tiền P3

- 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng loại tiền Polime

- 83 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng loại tiền P3

- 06 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng loại tiền P3

- 06 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng loại tiền P3

- 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng loại tiền Polime

- 21 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng

- 110 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng

- 34 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.

Tại Công văn số 39/TTGSNH ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Ngân hàng N11 chi nhánh tỉnh H về việc xác nhận kết quả tính lãi suất và thu lợi bất chính: Xác nhận kết quả tính lãi suất và số tiền thu lợi bất chính của bà Trần Thị T là đúng quy định tại khoản 1, Điều 5, Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Thống đốc Ngân hàng N11 quy định trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa cấp tín dụng với khách hàng.

Cáo trạng số 11/CT-VKSCP ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong truy tố Trần Thị T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đồng thời thừa nhận hành vi đúng như bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm (i, s) khoản 1 Điều 51; Điều 47, 48, 35 BLHS; Điều 106, 135 Bộ luật TTHS; Điều 123, 131, 468 BLDS. Về trách nhiệm hình sự: xử phạt tiền đối với Trần Thị T số tiền 50.000.000Đ – 60.000.000Đ. Về biện pháp tư pháp: truy thu từ bị cáo số tiền gốc đã cho vay mà bị cáo đã thu lại được của người vay; truy thu từ bị cáo số tiền lãi theo quy định pháp luật mà bị cáo đã thu được của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; truy thu từ những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền gốc chưa trả cho bị cáo; buộc bị cáo phải trả tiền lãi vượt quá quy định cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa ngày 04/6/2024, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoãn phiên tòa; Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định hoãn phiên tòa theo Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/HPT-QĐ ngày 04/6/2024.

Phiên tòa ngày 03/7/2024, bị cáo có đơn đề nghị xin hoãn phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoãn phiên tòa; Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định hoãn phiên tòa theo Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HPT-QĐ ngày 03/7/2024.

Tại phiên tòa ngày 01/8/2024 những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ. Xét thấy quá trình điều tra đều đã có lời khai, nội dung vụ án đã được làm rõ nên việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa khẳng định: Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến ngày 23/11/2023, Trần Thị T đã cho 46 người vay với lãi suất thỏa thuận 3000đ/1 triệu/ngày tương ứng với mức lãi suất 109,5% vượt quá mức lãi suất quy định là 5,48 lần. Căn cứ vào việc thực tế bị cáo đã tính lãi (tính trội hơn hoặc tính giảm đi so với lãi suất thỏa thuận) nên mức lãi suất mà T cho vay dao động từ 100,14%/năm đến 147,59%/ năm tương ứng gấp từ 5,01 lần đến 7,38 lần lãi suất quy định. Tổng số tiền bị cáo đã cho vay là 979.181.000đ (Chín trăm bảy mươi chín triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn đồng) trong đó đã thu được gốc là 788.181.000đ; số tiền gốc chưa thu được là 191.000.000đ. Số tiền lãi hợp pháp đã thu là 13.301.372Đ. Số tiền nhằm thu lợi bất chính là 79.118.491đ (Bảy mươi chín triệu, một trăm mười tám nghìn, bốn trăm chín mốt đồng) trong đó số tiền đã thu lợi bất chính là 59.995.628 (Năm mươi chín triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về hoạt động tín dụng trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi xuất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 (20%/năm) là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính. Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ xác định Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong truy tố Trần Thị T về tội danh, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo phạm tội mang tính chất ít nghiêm trọng tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù hoạt động cho vay của bị cáo không phải qua hình thức cửa hàng cầm đồ ký gửi, các khoản vay chủ yếu nhỏ lẻ, người vay để phục vụ nhu cầu chi tiêu sinh hoạt nhưng cũng đã ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không;

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bản thân bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt; là người cao tuổi; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm (i,s) khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Không.

Về các biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền gốc 979.181.000đ bị cáo sử dụng cho 46 cá nhân vay. Đây là số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm (a) khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm (a) khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 Hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Bị cáo đã thu về số tiền gốc là 788.181.000đ nên cần truy thu từ bị cáo số tiền trên. Số tiền gốc chưa thu được là 191.000.000đ, hiện những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa trả cho bị cáo thì cần truy thu số tiền này từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS (20%/năm) mà bị cáo đã thu của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người vay): Xác định đây là khoản tiền do phạm tội mà có, những người vay đã trả cho bị cáo nên phải bị truy thu nộp ngân sách Nhà nước quy định tại điểm (b) khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm (b) khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021. Số tiền lãi bị cáo đã thu của những người vay là 13.301.372Đ nên truy thu từ bị cáo số tiền này.

Đối với khoản tiền lãi vượt quá 20%/năm là khoản tiền mà bị cáo thu lợi bất chính của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người vay): Các khoản vay đều nhằm phục vụ giải quyết công việc và sinh hoạt gia đình không ai sử dụng vào mục đích bất hợp pháp, do vậy cần buộc bị cáo trả lại cho người vay theo quy định khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 59.923.000đ (Năm mươi chín triệu chín trăm hai ba nghìn đồng) tạm giữ của Trần Thị T, Cơ quan điều tra đã gửi kho bạc nhà nước huyện C đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Phong cần tiếp tục bảo lưu để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và Lưu hồ sơ vụ án các vật chứng gồm 02 quyển sổ đã được T đánh số trang và ký tên ở cuối mỗi trang.

Đối với Chứng minh nhân dân, căn cước công dân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ hộ khẩu quá trình điều tra xét thấy không cần thiết phải tạm giữ nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về vấn đề khác:

Quá trình điều tra xác định từ năm 2018 đến 22/11/2022, T đã cho nhiều người vay với lãi suất gấp nhiều lần so với lãi suất quy định nhưng tính từ thời điểm kết thúc các khoản vay này đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện C không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với các khoản vay trong sổ có ghi thỏa thuận mức lãi suất 3000đ/ 1 triệu/ngày tuy nhiên không xác định được thời gian vay, thời gian trả và số tiền lãi đã trả nên không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với những khoản vay trong sổ có ghi thỏa thuận mức lãi suất 3000đ/1 triệu/1 ngày nhưng thực tế khi thanh toán lãi, T không tính đủ nên lãi suất gấp dưới 5 lần mức lãi suất quy định nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện C không xem xét là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 201; điểm (i, s) khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, 50 BLHS;

2. Tuyên bố: Trần Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;

3. Xử phạt: Phạt tiền đối với Trần Thị T số tiền 60.000.000Đ (Sáu mươi triệu đồng).

4. Căn cứ vào Điều 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS; điểm (a, b) khoản 1, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” ngày 20-12-2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

4.1. Tuyên truy thu nộp ngân sách Nhà nước từ Trần Thị T tổng số tiền 801.482.372 Đ (Tám trăm linh một triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn ba trăm bảy mươi hai đồng).

4.2. Tuyên truy thu nộp ngân sách Nhà nước từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền từng người cụ thể như sau:

Họ và tên ngƣời bị Số tiền truy thu STT

Bằng chữ

truy thu

(Đồng)

01 Bùi Văn Dực

3.000.000 Ba triệu đồng

02 Bùi Văn Luận

13.000.000 Mười ba triệu đồng 03 Bùi Thị Thủy

5.000.000 Năm triệu đồng

04 Bùi Văn Sượng

10.000.000 Mười triệu đồng

05 Bùi Văn Dỉnh

9.000.000 Chín triệu đồng

06 Bùi Thị Ngần

15.000.000 Mười lăm triệu đồng 07 Bùi Duy Hành

5.000.000 Năm triệu đồng

08 Bùi Thị Oanh

11.000.000 Mười một triệu đồng 09 Bùi Thị Núi

90.000.000 Chín mươi triệu đồng 10 Bùi Thị Thân

3.000.000 Ba triệu đồng

11 Bùi Thị Tuyết

1.000.000 Một triệu đồng

12 Bùi Thị Tiện

6.000.000 Sáu triệu đồng

13 Vũ Văn Nam

5.000.000 Năm triệu đồng

14 Bùi Thị Đọng

11.000.000 Mười một triệu đồng 15 Bùi Thị Niệp

4.000.000 Bốn triệu đồng

4.3. T14 buộc Trần Thị T trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền cụ thể như sau:

Số tiền STT

Họ tên

Bằng chữ

(Đồng)

Ba trăm tám mươi nghìn không trăm sáu mươi

01 Bùi Thị Hoan

380.068

tám đồng

Một triệu một trăm linh ba nghìn bốn trăm hai

02 Bùi Văn Kiểu

1.103.425

mươi lăm đồng

Một trăm chín mươi nghìn không trăm ba mươi

03 Bùi Thị Nhẫn

190.034

tư đồng

Ba triệu hai trăm bảy sáu nghìn ba trăm ba

04 Bùi Thị Phức

3.276.355

năm mươi lăm đồng

Hai trăm hai mươi chín nghìn năm trăm hai

05 Bùi Văn Dương

229.520

mươi đồng

Hai trăm chín mươi chín nghìn một trăm năm

06 Bùi Thị Sịnh

299.151

mươi mốt đồng

Hai trăm linh tám nghìn bốn trăm hai mươi lăm

07 Bùi Thị Chính

208.425

đồng

08 Bùi Thị Phiện

71.110 Bảy mươi mốt nghìn một trăm mười đồng

Hai triệu một trăm hai mươi chín nghìn một

09 Bùi Văn Chiến

2.129.110

trăm mười đồng

Bốn trăm ba mươi tám nghìn một trăm linh chín

10 Bùi Thị Toản

438.109

đồng

Ba trăm tám mươi nghìn không trăm sáu mươi

11 Bùi Thị Đặng

380.068

tám đồng

Tám trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm bốn

12 Bùi Thị Nhự

882.740

mươi đồng

Hai trăm chín mươi bốn nghìn hai trăm bốn

13 Bùi Thị Gái

294.247

mươi bảy đồng

Một triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn bảy

14 Bùi Văn Phóng

1.267.713

trăm mười ba đồng

Sáu trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm mười

15 Bùi Văn Hệ

664.315

lăm đồng

Hai triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn chín

16 Bùi Thị Tám

2.635.959

trăm năm mươi chín đồng

Hai trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi

17 Quách Thị Thao

235.397

bảy đồng

Ba trăn năm mươi nghìn sáu trăm bốn mươi

18 Bùi Thị Thoa

350.645

lăm đồng

Một trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi

19 Bùi Văn Linh

128.733

ba đồng

Sáu trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm bốn

20 Lò Thị Thắm

647.342

mươi hai đồng

Hai triệu bảy trăm linh bảy nghìn không trăm

21 Bùi Văn Liểu

2.707.068

sáu mươi tám đồng

Năm triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn tám

22 Bùi Thị Thúy

5.786.849

trăm bốn mươi chín đồng

Một trăm bốn mươi tư nghìn chín trăm ba mươi

23 Bùi Văn Nghĩa

144.932

hai đồng

Một triệu một trăm mười lăm nghìn sáu trăm

24 Bùi Thị Chuyền

1.115.685

tám mươi lăm đồng

Một triệu không trăm bốn mươi hai nghìn một

25 Bùi Thị Nấm

1.042.124

trăm hai mươi tư đồng

Hai triệu hai trăm tám mươi nghìn bốn trăm

26 Bùi Thị Nguyệt

2.280.411

mười một đồng

Tám mươi nghìn không trăm chín mươi bảy

27 Bùi Thị Ân

80.397

đồng

Bốn trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm hai

28 Bùi Văn Dực

469.726

mươi sáu đồng

Một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn hai trăm

29 Bùi Văn Luận

1.625.205

linh năm đồng

Hai triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn năm

30 Bùi Thị Thủy

2.454.507

trăm linh bảy đồng

Một triệu một trăm chín mốt nghìn sáu trăm

31 Bùi Văn Sượng

1.191.699

chín mươi chín đồng

Hai triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn một

32 Bùi Văn Dỉnh

2.685.189

trăm tám mươi chín đồng

33 Bùi Thị Ngần

3.707.507 Ba triệu bảy trăm linh bảy nghìn năm trăm linh

bảy đồng

Một triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn bảy

34 Bùi Duy Hành

1.495.753

trăm năm mươi ba đồng

Bốn triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn một trăm

35 Bùi Thị Núi

4.437.151

năm mươi mốt đồng

Bốn trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm hai

36 Bùi Thị Thân

449.726

mươi sáu đồng

Bảy trăm bốn mươi bảy nghìn tám trăm bảy

37 Bùi Thị Tuyết

747.877

mươi bảy đồng

Một triệu hai trăm hai mươi sái nghìn không

38 Bùi Thị Tiện

1.226.028

trăm hai mươi tám đồng

Bốn triệu chín trăm năm bảy nghìn không trăm

39 Vũ Văn Nam

4.957.014

mười bốn đồng

40 Bùi Thị Đọng

323.671 Ba trăm hai mươi ba nghìn

Một trăm bốn mươi bảy đồng một trăm hai

41 Bùi Thị Nụ

147.123

mươi ba đồng

Hai triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn ba

42 Bùi Thị Mờn

2.557.384

trăm tám mươi tư đồng

Hai triệu bốn trăm linh ba nghìn không trăm

43 Bùi Thị Niệp

2.403.013

mười ba đồng

Một trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm hai

44 Bùi Thị Nguồn

147.123

mươi ba đồng

4.4. Bảo lưu số tiền 59.923.000đ (Năm mươi chín triệu chín trăm hai ba nghìn đồng) của Trần Thị T hiện tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Phong theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/5/2024 để đảm bảo thi hành án.

4.5. Tịch thu lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 quyển sổ ghi chép của Trần Thị T trong đó 01 quyển sổ có bìa màu trắng có dòng chữ PATTERNS (được đánh số từ 01 đến 173) và 01 quyển sổ không có bìa (được đánh số từ 01 đến 78).

5. Áp dụng: Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Trần Thị T.

6. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

8. Áp dụng: Điều 331; 333 Bộ luật TTHS;

Tuyên: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo; cũng trong thời hạn trên, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ