vanban.org

Bản án 22/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Doãn Mạnh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Vũ Thị T như sau:

Tuyên bố Vũ Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về phần hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Doãn Mạnh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Vũ Thị T như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-PT
Ngày 13/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh;

Các Thẩm phán: Ông Vũ Minh Quán và ông Trương Quyết Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Nhật Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 13/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2024/TLPT - HS ngày 01/7/2024 đối với bị cáo Vũ Thị T, do có kháng cáo của người đại diện cho bị hại bà Nguyễn Thị A là ông Doãn Mạnh H đối với Bản án sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

- Bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thị T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 30 tháng 3 năm 1980 tại Bảo Thắng, Lào Cai.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5, phường DH, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

Nơi ở hiện nay: Số nhà 037, đường TĐN, tổ 12, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Vũ Quốc T1 (đã chết) và bà Đặng Thị S. Bị cáo có chồng là Phạm Đình T2 - Sinh năm 1965 (đã ly hôn). Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1948. Trú tại: Tổ 15, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai. Đã chết.

- Những người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Ông Doãn Mạnh H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ 15, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

+ Ông Doãn Thanh S, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn NK, xã NS, huyện VC, tỉnh Yên Bái.

+ Bà Doãn Thị T3, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ 9, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

+ Ông Doãn Trung T4, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn AT, xã PN, thị xã NL tỉnh Yên Bái.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông S, bà T3 và ông T4: Ông Doãn Mạnh H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ 15, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ – Luật sư Văn phòng Luật sư NB thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lào Cai. Địa chỉ: Số nhà 051, phố LĐT, phường KT, Lào Cai. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 16/9/2023, Vũ Thị T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 24Y1-197.12 đi trên đường THT qua ngã tư giao nhau giữa đường THT và đường TDM, hướng ra đường TQK thuộc khu công nghiệp BDH, thành phố LC, tỉnh Lào Cai. Vũ Thị T điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 30km/h và quan sát thấy phía trước cùng chiều đi có hai người đang đi bộ hàng ngang dưới lòng đường THT. Vũ Thị T nhấn còi báo hiệu để hai người nghe thấy và tránh đường. Tuy nhiên khi nhấn còi Vũ Thị T không thấy hai người này có biểu hiện tránh xe mô tô, Vũ Thị T đã không dừng xe mô tô lại mà tự tin cho rằng hai người này tránh được va chạm. Vũ Thị T tiếp tục nhấn còi, điều khiển xe mô tô đi đến phía hai người vẫn đang đi bộ tập thể dục. Khi đến sát hai người này, Vũ Thị T mới nhấn phanh để dừng xe nhưng không kịp nên đã đâm vào phía sau của người đi phía trong lòng đường là bà Nguyễn Thị A. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị A ngã ngửa ra phía sau, đập đầu xuống đường và được đưa đi cấp cứu, sau đó bà Nguyễn Thị A đã tử vong.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LC đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện theo quy định của pháp luật. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định nguyên nhân chính gây tai nạn là do Vũ Thị T điều khiển xe mô tô mang Biển kiểm soát: 24Y1-197.12 tham gia giao thông, khi đi trên đường THT đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đâm vào bà Nguyễn Thị A đang đi bộ gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm bà Nguyễn Thị A tử vong.

Tại Kết luận giám định tử thi số 72/KLGĐTT-TTPY ngày 12/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị A là do: Ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn do chấn thương sọ não (vỡ xương sọ, chảy máu não).

Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai đã quyết định:

Tuyên bố Vũ Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/5/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 591 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự:

Buộc bị cáo Vũ Thị T phải bồi thường cho đại diện gia đình bị hại là ông Doãn Mạnh H số tiền 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo và người đại diện bị hại theo quy định.

Ngày 27/5/2024, người đại diện của bị hại bà Nguyễn Thị A là ông Doãn Mạnh H có đơn kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Vũ Thị T và tăng mức tiền bồi thường.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Vũ Thị T nhất trí với bản án sơ thẩm và không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của người đại diện bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai trình bày quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện của bị hại ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Không nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai. Bản án hình sự sơ thẩm xác định bị hại cũng có lỗi và đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại ông Doãn Mạnh H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai theo hướng tăng hình phạt, không cho bị cáo được hưởng án treo và tăng mức bồi thường thiệt hại dân sự lên 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Thị T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, trong quá trình điều tra và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định:

Ngày 16/9/2023, bị cáo Vũ Thị T điều khiển xe mô tô mang Biển kiểm soát: 24Y1-197.12 tham gia giao thông, khi đi trên đoạn đường THT thuộc Khu công nghiệp BDH, thành phố LC đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã đâm bánh trước xe máy vào phía sau bà A, làm bà Nguyễn Thị A ngã ngửa ra phía sau, đập đầu xuống đường và tử vong.

Hành vi của bị cáo Vũ Thị T đã vi phạm khoản 5 Điều 4; khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và vi phạm khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 “Quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ”.

Với hành vi nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai xử phạt bị cáo Vũ Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại:

Với kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt:

Bị cáo Vũ Thị T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu do vô ý và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú. Bị cáo tuy có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định song tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn chuẩn bị 50.000.000 đồng để bồi thường cho đại diện bị hại và số tiền còn lại bị cáo cam kết sẽ thu xếp bồi thường trong 01 năm nhưng đại diện bị hại không đồng ý. Vì vậy, cần áp dụng thêm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hơn nữa, bị hại bà Nguyễn Thị A cũng có một phần lỗi khi đi bộ hàng ngang dưới lòng đường, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ “Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường”.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo với mức án mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp.

Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người đại diện bị hại đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo Vũ Thị T.

Đối với kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường: Người đại diện của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

Khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự quy định: “... Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

Giai đoạn điều tra, người đại diện của bị hại là ông Doãn Mạnh H có đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 180.000.000 đồng (trong đó 80.000.000 đồng là tiền mai táng phí; 100.000.000 đồng là tiền bồi thường về tổn thất tinh thần). Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã nhất trí với yêu cầu của đại diện bị hại về việc bồi thường số tiền 180.000.000 đồng như đã nêu trên. Quá trình xét xử phúc thẩm, đại diện bị hại không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu tăng mức bồi thường của mình là có căn cứ.

Như vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã căn cứ các Điều 584; 585; 591 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Vũ Thị T phải bồi thường cho đại diện gia đình bị hại là ông Doãn Mạnh H số tiền 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng) là phù hợp. Số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) mà người đại diện của bị hại đưa ra là quá cao, không phù hợp với các quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Ông Doãn Mạnh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Doãn Mạnh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố LC, tỉnh Lào Cai về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Vũ Thị T như sau:

Tuyên bố Vũ Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về phần hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/5/2024).

Giao bị cáo Vũ Thị T cho Uỷ ban nhân dân phường DH, thành phố LC, tỉnh Lào Cai quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 591 Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự:

Buộc bị cáo Vũ Thị T phải bồi thường cho đại diện gia đình bị hại là ông Doãn Mạnh H số tiền 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải bồi thường, nếu bị cáo không thi hành án đối với khoản tiền hoàn trả cho đến khi thi hành xong khoản tiền hoàn trả, thì hàng tháng bị cáo phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Ông Doãn Mạnh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ