vanban.org

Bản án 22/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21.3.2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cơ

2. Ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 361/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H - sinh năm 1991; nơi cư trú: B P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Ngọc H1 - sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, (Vắng mặt, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn ly hôn gửi đến Tòa án ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Bản tự khai ngày 10 tháng 11 năm 2023 và tại phiên toà, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Ngọc H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng vào năm 2020. Sau khi kết hôn, bà và ông H1 sống ở nhà của cha mẹ ông H1 tại tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn từ đầu năm 2023, trầm trọng nhất từ tháng 6 năm 2023. Nguyên nhân là do không hợp về tính tình, bất đồng về quan điểm sống; từ đó giữa vợ chồng xảy ra cãi vả, ông H1 đánh đập bà. Từ tháng 6 năm 2023 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, bà chuyển về sống ở nhà của cha mẹ bà. Nay, bà xác định không còn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng không khắc phục được nên đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông H1.

- Về quan hệ nuôi con chung: Bà xác định bà và ông H1 có 01 (Một) con chung là Lê Nguyễn Minh Q - sinh ngày 24 tháng 9 năm 2020. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ chia tài sản: Bà xác định bà và ông H1 không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ bà và ông H1.

* Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng bằng hình thức niêm yết công khai, do ông H1 thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa, ông H1 vắng mặt lần hai, không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu: Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý, thời hạn giải quyết cũng như việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các nguyên tắc xét xử, đảm bảo các bên đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà H đối với ông H1; căn cứ các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu về nuôi con của bà H. Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con, không có tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã triệu tập hợp lệ bị đơn - ông Lê Ngọc H1, nhưng tại phiên tòa ông H1 vắng mặt lần hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H1.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Ngọc H1 đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Do vậy, hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hợp pháp.

[2.1] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông H1, Hội đồng xét xử thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của bà H. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định:

Trong quá trình chung sống, giữa bà H và ông H1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn từ đầu năm 2023, trầm trọng nhất từ tháng 6 năm 2023. Nguyên nhân theo bà H trình bày là do vợ chồng không hợp về tính tình, quan điểm sống nên vợ chồng xảy ra cải vã; ông H1 đã đánh đập bà. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023. Việc ông H1 không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng đã thể hiện ông H1 không có mong muốn đoàn tụ, để mặc cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà H và ông H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H đối với ông H1, xử cho bà H được ly hôn với ông H1. [2.2] Về quan hệ nuôi con chung: Bà H và ông H1 có 01 (Một) con chung là Lê Nguyễn Minh Q - sinh ngày 24 tháng 9 năm 2020. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.

Xét, ông H1 không có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, con chung Lê Nguyễn Minh Q hiện đang nhỏ tuổi, cần sự chăm sóc của mẹ. Căn cứ quyền lợi mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, xử giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.3] Về quan hệ chia tài sản: Bà H xác định bà và ông H1 không có tài sản chung, không nợ của ai và không có ai nợ của bà và ông H1 nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

¸n phÝ h«n nh©n vµ gia ®×nh s¬ thÈm bà Nguyễn Thị Thu H phải chÞu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYÕT §ÞNH

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, các điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Lê Ngọc H1 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

* Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho bà H được ly hôn với ông H1.

* Về quan hệ nuôi con chung:

Xử: Giao con chung Lê Nguyễn Minh Q - sinh ngày 24 tháng 9 năm 2020 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. * Về quan hệ chia tài sản: Bà H xác định không có tài sản chung; không nợ của ai, không có ai nợ của bà và ông H1.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn ngàn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0002344 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ĐiÒu 6, 7, 7a, 7b vµ 9 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù.

Cỡ chữ