- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 2…"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày 29 - 7 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc và ông Nguyễn Văn Kiệm.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Kim Ng, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường V, thị xã V tỉnh B; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trương Thế A, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện L, tỉnh H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024, bản khai, lời khai của chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A, nội dung vụ án như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/3/2018 tại UBND xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Sau ngày cưới, vợ chồng sinh sống hạnh phúc, có con chung thì phát sinh mâu thuẫn.
Theo chị Hoàng Thị Kim Ng trình bày: Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Thế A mải chơi dẫn đến nợ nần, phải bán cả xe máy của hai vợ chồng để trả nợ. Chị và gia đình đã nhiều lần đưa tiền để trả nợ thay anh Thế A nhưng anh Thế A không thay đổi mà thường xuyên uống rượu, đánh đập chửi bới chị nhiều lần, chị không chịu được nên đến tháng 01/2022 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị Ng xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh Trương Thế A được ly hôn.
Theo anh Trương Thế A thì cho rằng: Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh phát hiện chị Ng nhắn tin qua điện thoại có ngoại tình với người đàn ông khác, anh nói chuyện thì chị Ng không thừa nhận, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, anh có tát chị Ng 01 cái thì chị Ng bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay. Anh xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cũng có phần lỗi do anh mải chơi nợ nần tiền bạc ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, không quan tâm đến vợ con nhưng mâu thuẫn nhỏ chưa đến mức ly hôn, vợ chồng vẫn còn tình cảm, nên anh không đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị Kim Ng.
- Về con chung: Chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A thống nhất vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Bảo Ch, sinh ngày 16/6/2018. Hiện cháu Ch đang ở với chị Ng và ông bà ngoại tại xã Bắc Thủy, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Bảo Ch, các bên không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết.
Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không thành.
Tại phiên toà:
- Nguyên đơn chị Hoàng Thị Kim Ng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân có quan điểm như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ, vắng mặt phiên toà lần thứ hai nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị giải quyết ly hôn giữa chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A. Về con chung: Giao cháu Trương Bảo Ch, sinh ngày 16/6/2018 cho chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ch đủ 18 tuổi, tự lập; anh Thế A không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Ng. Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Chị Ng phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do chị Hoàng Thị Kim Ng cung cấp, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, anh Trương Thế A vắng mặt phiên toà lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A là tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị Ng trình bày thì nguyên nhân do vợ chồng khó khăn về kinh tế, anh Thế A chơi bời dẫn đến nợ nần, anh Thế A thì thường xuyên uống rượu chửi bới, đánh đập chị nhiều lần; anh Thế A thì nghi ngờ chị Ng không chung thuỷ mà có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Về nguyên nhân mâu thuẫn các bên đưa ra là khác nhau, nhưng quá trình giải quyết vụ án thì cả chị Ng và anh Thế A đều xác nhận vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 01/2022 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Tại phiên toà, chị Ng vẫn cương quyết xin ly hôn, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị Kim Ng là có căn cứ, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và đia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A có 01 con chung là cháu Trương Bảo Ch, sinh ngày 16/6/2018.
Xét nguyện vọng nuôi dưỡng con chung của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy: Khi ly hôn cả chị Ng và anh Thế A đều có quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vợ chồng chỉ có một con chung duy nhất, hiện cháu Ch còn nhỏ dưới 7 tuổi và đang do chị Ng và ông bà ngoại nuôi dưỡng. Xét về điều kiện nuôi con, hiện chị Ng đang làm việc tại khu công nghiệp Đình Trám, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, thu nhập bình quân 9.000.000 đồng/tháng, còn anh Thế A hiện đang làm việc tại công ty Honda Việt Nam, thu nhập bình quân mỗi tháng 14.000.000 đồng, như vậy các đương sự đều có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, cháu Ch là con gái và còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc của người mẹ hơn, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu Ch do chị Ng nuôi dưỡng, hiện cuộc sống ăn học của cháu đều đảm bảo, anh Thế A có nguyện vọng nuôi con nhưng vắng mặt các phiên toà sơ thẩm. Vì vậy nên giao cháu Ch cho chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với pháp luật được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với yêu cầu nuôi con của anh Thế A là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ng không yêu cầu anh Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị Kim Ng và anh Trương Thế A.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Bảo Ch, sinh ngày 16/6/2018 cho chị Hoàng Thị Kim Ng tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Ch đủ 18 tuổi, tự lập. Anh Trương Thế A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Ng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Kim Ng phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Ng đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000826 ngày 05 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS Lý Nhân; - UBND xã Bắc Lý; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ + văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Quốc Huy |