- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn T được ly hôn với chị Trần Xiếu B.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22 – 3 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Âu Cần Đông
Ông Lê Văn Qui
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm: 1984 (có mặt).
Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Chị Trần Xiếu B, sinh năm: 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Bùi Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2006 anh Bùi Văn T và chị Trần Xiếu B tự nguyện tổ chức lễ cưới, đến ngày 14/8/2006 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong cuộc sống vợ chồng khó khăn về kinh tế nên thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không có điểm chung, cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Về con chung: Anh Tú và chị Xiếu B có 01 con chung, tên Bùi Như Ý (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/7/2006, hiện đang sống chung với anh T.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà, nguyên đơn anh Bùi Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Trần Xiếu B, con chung anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Bùi Như Ý, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết..
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn chị Trần Xiếu B nhưng chị Trần Xiếu B vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của bị đơn chị Trần Xiếu B.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Trần Xiếu B chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn T. Cho anh Bùi Văn T được ly hôn với chị Trần Xiếu B.
Về con chung: Giao cháu Bùi Như Ý (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/7/2006 cho anh Bùi Văn T nuôi dưỡng. Anh Tú chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho chị Trần Xiếu B không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Trần Xiếu B đều vắng mặt nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của anh Bùi Văn T và chị Trần Xiếu B có hay không. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Bùi Văn T phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Trần Xiếu B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn chị Trần Xiếu B.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của anh Bùi Văn T tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định anh Bùi Văn T và chị Trần Xiếu B đã đăng ký kết hôn tại kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 14/8/2006, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của anh Bùi Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng của anh Bùi Văn T và chị Trần Xiếu B rất hạnh phúc, đã có con chung. Quá trình chung sống vợ chồng khó khăn về kinh tế nên thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không có điểm chung, cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Tại phiên tòa, anh Bùi Văn T cương quyết yêu cầu được ly hôn với chị Trần Xiếu B. Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của anh Bùi Văn T và chị Trần Xiếu B là trầm trọng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì anh Bùi Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Trần Xiếu B là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Anh Tú và chị B có 01 con chung tên Bùi Như Ý (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/7/2006, hiện đang sống chung với anh T, sau khi ly hôn anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bùi Như Ý. Hội đồng xét xử xét thấy, tại bản tự khai của cháu Bùi Như Ý có nguyện vọng được sống chung với cha (anh Bùi Văn T). Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo hợp lệ đối với chị Trần Xiếu B nhưng chị Trần Xiếu B vắng mặt. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của chị Trần Xiếu B, cũng như chị Trần Xiếu B không có ý kiến gì về việc yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Bùi Như Ý. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Bùi Như Ý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Bùi Như Ý cho anh Bùi Văn T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh Tú chưa yêu cầu nên chưa xem xét.
Chị Trần Xiếu B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Trần Xiếu B đều vắng mặt. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của chị Trần Xiếu B nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của anh Bùi Văn T và chị Trần Xiếu B có hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn anh Bùi Văn T phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn T được ly hôn với chị Trần Xiếu B.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Như Ý (Giới tính: Nữ) sinh ngày 26/7/2006 cho anh Bùi Văn T nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh Tú chưa yêu cầu nên chưa xem xét.
Chị Trần Xiếu B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho anh Bùi Văn T và chị Trần Xiếu B thành vụ án khác khi có yêu cầu.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Bùi Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh T được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo phiếu thu số 0007543, lập ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn chị Trần Xiếu B vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKS ND thị xã Long Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ; - UBND phường Vĩnh Tường; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Lil |