- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xét xử cho ly hôn giữa chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T. Quan hệ hôn nhân của chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 07 - 2024 V/v: “Kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phàng Thị Cở
2. Bà Trần Thị Trúc
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 25/07/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Toà án nhân dân huyện B, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 30/2024/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 04 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 06 năm 2024 và quyết đinh hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Hồng H - Sinh năm 1993
Địa chỉ: số nhà 447, đường T, tổ 11, phường B, thành phố L, tỉnh L (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm 1993
Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện B, tỉnh L (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vũ Hồng H trình bày: Chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn ngày 06/01/2015 tại Ủy ban nhân dân phường C thành phố L, tỉnh L. Sau khi kết hôn chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống trong cách làm ăn nuôi dậy con cái, anh Nguyễn Văn T bỏ bê gia đình vợ con không quan tâm, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mâu thuẫn cũng được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng cuộc sống vợ chồng không được cải thiện. Từ tháng 12 năm 2022 đến nay chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T đã sống ly thân từ đó đến nay không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Đến nay chị Vũ Hồng H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Vũ Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung cháu Nguyễn Văn Đức M - sinh ngày 21/07/2019. Hiện cháu Nguyễn Văn Đức M đang ở cùng chị Vũ Hồng H. Khi ly hôn chị Vũ Hồng H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Văn Đức M đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Hồng H không yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Văn T nhưng tòa án không tống đạt được lý do không tống đạt được các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Văn T là anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh L nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, thi thoảng mới về không ở ổn định tại nơi cư trú. Vì Vậy Tòa án tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn T không đến Toà án nhân dân huyện B làm bản tự khai và không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về ly hôn: Xử cho chị Vũ Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn T
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Đức M - sinh ngày 21/07/2019 cho chị Vũ Hồng H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Văn Đức M đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Chị Vũ Hồng H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với anh Nguyễn Văn T có địa chỉ tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh L vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Nguyên đơn chị Vũ Hồng H không tham gia hòa giải, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Vũ Hồng H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Xét yêu cầu khởi kiện: Chị Vũ Hồng H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn ngày 06/01/2015 tại Ủy ban nhân dân phường C thành phố L, tỉnh L. Sau khi kết hôn chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống trong cách làm ăn nuôi dậy con cái, anh Nguyễn Văn T bỏ bê gia đình vợ con không quan tâm, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mâu thuẫn cũng được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng cuộc sống vợ chồng không được cải thiện. Đến tháng 12 năm 2022 chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T đã sống ly thân, chị Vũ Hồng H đã về nhà bố mẹ đẻ ở đường T, tổ 11, phường B, thành phố L sinh sống, anh Nguyễn Văn T sinh sống tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh L, từ đó đến nay không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Quá trình Tòa án giải quyết anh Nguyễn Văn T không đến tòa án để làm bản tự khai cũng như có ý kiến về việc xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Vũ Hồng H. Tại biên bản xác minh ngày 25/04/2024 Tòa án nhân dân huyện B về việc anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh L và mâu thuẫn vợ chồng thì được ông Hoàng Văn Ngán là trưởng thôn cho biết: Anh Nguyễn Văn T không thường xuyên sinh sống tại nơi cư trú, thi thoảng mới về nhà. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Hồng H đối với anh Nguyễn Văn T.
Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung cháu Nguyễn Văn Đức M - sinh ngày 21/07/2019. Khi ly hôn chị Vũ Hồng H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Vũ Hồng H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Văn Đức M đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) chị Vũ Hồng H cho rằng anh Nguyễn Văn T không có công việc ổn định, thường xuyên đi đâu không ai biết, thi thoảng mới về nhà, không có thời gian chăm sóc cháu Nguyễn Văn Đức M, không lo toan kinh tế gia đình nên không thể chăm sóc cháu Nguyễn Văn Đức M được. Về cấp dưỡng nuôi con chị Vũ Hồng H không yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét việc giao nuôi con thì chị Vũ Hồng H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Văn Đức M - sinh ngày 21/07/2019 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) Việc nuôi con khi thông báo tiếp cận công khai chứng cứ cũng đã ghi quan điểm của chị Vũ Hồng H về việc để chị Vũ Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Văn Đức M, anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Vũ Hồng H, anh Nguyễn Văn T không đến Tòa án để làm bản tự khai và cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc có đủ điều kiện để nuôi con hay không và không có ý kiến gì về việc chị Vũ Hồng H đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Văn Đức M, hiện cháu Nguyễn Văn Đức M đang ở cùng chị Vũ Hồng H. Chị Vũ Hồng H có công việc ổn định hiện đang làm Ngân hàng TMCP Bảo Việt mức thu nhập là 10.000.000 đồng/ 1 tháng. Hiện nay anh Nguyễn Văn T thường xuyên vắng nhà nên không có thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái. Vì vậy căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình giao cháu Nguyễn Văn Đức M cho chị Vũ Hồng H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Vũ Hồng H.
Về tài sản chung: Chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp.
Về án phí: Chị Vũ Hồng H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Từ những nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T. Quan hệ hôn nhân của chị Vũ Hồng H và anh Nguyễn Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Đức M - sinh ngày 21/07/2019 cho chị Vũ Hồng H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Văn Đức M đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con anh Nguyễn Văn T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vũ Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000633 ngày 25 tháng 04 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Xác nhận chị Vũ Hồng H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
4. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Hồng H, anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND tỉnh; - VKS huyện BX - THADS; - UBND phường C (1) (ĐKKH ) - UBND xã B - Các đương sự - Lưu hs, tập QĐ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Hương |