- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn May - Tính"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với ông Đặng Quang T về việc tranh chấp “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 4 - 2024. V/v tranh chấp: Ly hôn giữa bà M và ông T. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Sáu
2. Ông Phạm Đức Minh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 299/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự.
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Xóm 3, Thôn 8, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).
* Bị đơn: Ông Đặng Quang T, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Xóm 3, Thôn 8, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
* Về hôn nhân:
Bà M và ông T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 18/4/2007. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn; ông T thường xuyên uống rượu và có hành vi bạo lực gia đình làm cho vợ chồng sống không hòa thuận, không có tiếng nói chung. Nay mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông T.
Còn ông T thì cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nên không đồng ý ly hôn.
* Về con chung: Bà M và ông T trình bày vợ chồng chung sống có 02 con chung là cháu Đặng Nguyễn C1, sinh ngày 25/02/2008 và cháu Đặng Ngọc C2, sinh ngày 13/7/2014. Khi ly hôn bà M yêu cầu được nhận nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên; Bà M không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn ông T thì cho rằng ông không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung.
* Về tài sản chung: Bà M trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia, còn ông T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về nợ chung: Bà M và ông T trình bày vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn bà Nguyễn Thị M có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng giải quyết về việc tranh chấp “Ly hôn” với ông Đặng Quang T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Đặng Quang T đã được triệu tập hợp lệ (niêm yết) nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 18/4/2007. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông T là hoàn toàn hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn; ông T thường xuyên uống rượu và có hành vi bạo lực gia đình làm cho vợ chồng sống không hòa thuận, không có tiếng nói chung. Nay mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông T.
Còn ông T thì cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nên không đồng ý ly hôn. Tòa án đã triệu tập ông T đến làm việc và hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ nhưng ông T cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông T không có nguyện vọng mong muốn được trở về đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M, xử cho bà M được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà M và ông T trình bày vợ chồng chung sống có 02 con chung là cháu Đặng Nguyễn C1, sinh ngày 25/02/2008 và cháu Đặng Ngọc C2, sinh ngày 13/7/2014. Khi ly hôn bà M yêu cầu được nhận nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên. Còn ông T thì cho rằng ông không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung.
Xét thấy, hiện nay các con chung còn nhỏ, đang có cuộc sống ổn định với bà M. Bà M cho rằng mình có đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì vậy, để không ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại cũng như tâm lý của con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của bà M về việc nhận nuôi dưỡng 02 con chung; giao 02 cho bà M có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng: Bà M không yêu cầu nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà M trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia, còn ông T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về nợ chung: Bà M và ông T trình bày vợ chồng không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí: Bà M tự nguyện chịu 300.000đ tiền án phí phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với ông Đặng Quang T về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Xử cho bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Đặng Quang T.
2/ Về con chung:
Giao 02 con chung là cháu Đặng Nguyễn C1, sinh ngày 25/02/2008 và cháu Đặng Ngọc C2, sinh ngày 13/7/2014 cho bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông Đặng Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3/ Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị M trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia, còn ông Đặng Quang T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
4/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị M đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006749 ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí.
5/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/4/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo T từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - UBND xã L; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Đức Trường |