- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 42 (bốn mươi hai) tháng tù.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HS-ST. Ngày 10-03-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Tuyết Thanh.
2. Bà Nguyễn Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Cương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2023/TLST-HS ngày 17/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 27/02/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Số nhà N, đường Q, phường M, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn E (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/01/2012, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 27 tháng tù về tội: “Cướp tài sản”. Ngày 26/9/2013, Công an phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi:“Đánh nhau”. Ngày 27/11/2013, UBND phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã thời hạn 03 tháng. Ngày 02/12/2013, Công an phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi: “Đánh nhau”. Ngày 19/9/2014, Công an phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi: “Đánh nhau”. Ngày 03/03/2015, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 07/12/2017, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 03 năm 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2020; bị bắt, tạm giữ ngày 16/11/2022, tạm giam từ ngày 25/11/2022 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1970; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 16/11/2022, Nguyễn Văn H đang ở nhà thì có bạn mới quen là người đàn ông khoảng 30 tuổi (H không biết tên, địa chỉ) đến gặp H. Trong lúc nói chuyện, người đàn ông bảo H đi mua ma túy để cùng sử dụng và lấy ra số tiền 650.000 đồng đưa cho H. H cầm tiền rồi đi bộ ra khu vực nhà văn hóa tổ 2 phường Minh Khai gặp một người phụ nữ tên Thủy (còn gọi là Thủy Cua), H đưa cho Thủy số tiền 650.000 đồng và được người này đưa cho 01 gói giấy bạc màu trắng. Biết đó là gói ma túy, H liền cầm lấy rồi đi bộ quay về thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý phối hợp với Công an phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý đang làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính. Tại chỗ, H tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng giữ trong lòng bàn tay phải, bên trong có chứa 08 viên nén màu đỏ, khai nhận đó là ma túy ngựa, cất giấu mục đích để sử dụng.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa 08 viên nén màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H và số tiền 50.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 649/KL-KTHS ngày 21/11/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,783g (không phẩy bẩy trăm tám mươi ba gam), loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-PL ngày 14/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn H từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng; kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng; lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 16/11/2022, tại khu vực tổ 2, phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý, Nguyễn Văn H đã bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,783 gam chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân xấu do đã từng bị kết án về các tội: “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản” (đều đã được xóa án tích); bản thân đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (đều đã hết thời hạn coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập và tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi và người phụ nữ tên Thủy theo bị cáo khai là người đã đưa tiền để đi mua ma túy và người đã bán ma túy cho bị cáo để cất giấu, sử dụng, do quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ điều tra, xác minh và tiến hành đối chất để làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông và căn cứ xác định về người phụ nữ tên Thủy đã bán ma túy cho bị cáo, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó Cơ quan điều tra xác định không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với những người này là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
7.1. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 căn cước công dân thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra đã xác định đó là những tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
7.2. Đối với số tiền 50.000 đồng, quá trình điều tra bị cáo khai đó là tiền của người đàn ông đã đưa cho bị cáo để đi mua ma túy, tại phiên tòa bị cáo xác định lại số tiền này do mẹ đẻ đã cho để chi tiêu cá nhân nên là tài sản của bị cáo, do lời khai của bị cáo là duy nhất và không có tài liệu chứng cứ nào khác trong vụ án xác định đây là khoản tiền liên quan đến tội phạm trong vụ án nên trả lại cho bị cáo.
7.3. Đối với toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 16/11/2022.
2. Xử lý vật chứng:
2.1. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO có số IMEI1: 865073041101396, số IMEI2: 865073041101388, màu xanh đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng) và số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
2.2. Giao cho Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tạm giữ và trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H sau khi chấp hành xong án phạt tù 01 (một) căn cước công dân số: 035094004131 mang tên Nguyễn Văn H.
2.3. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước có ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01” số 649/KTHS, mặt sau có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 14/02/2023; Ủy nhiệm chi số 19 lập ngày 16/02/2023.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo Nguyễn Văn H; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |