vanban.org

Bản án 22/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 05/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ng phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Lê Thị Ng 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ng phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN M
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HSST
Ngày: 05-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN M – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Triệu

2. Bà Phạm Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhủ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2023/HSST ngày 07 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thị Ng

Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1956;

Nơi sinh: Cần Thơ;

Nơi cư trú: khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ;

Nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn (văn hóa): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B, sinh năm 1923 (c H) và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1920 (chết); anh chị em có 04 người (lớn nhất sinh năm 1959, nhỏ nhất sinh năm 1963); chồng: Huỳnh Văn C, sinh năm 1954 (chết), con: 03 người (lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1987).

Tiền án: không.

Tiền sự: Ngày 08 tháng 12 năm 2022 bị Công an quận M, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt ngày 19 tháng 12 năm 2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị N, sinh năm 1961. Địa chỉ: khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

2. Bà Hồ Thị H, sinh năm 1960. Địa chỉ: khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác nắm tình hình khoảng 15 giờ 10 phút, ngày 26 tháng 12 năm 2022 Công an phường P, quận M tiến hành kiểm tra phát hiện tại khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ các đối tượng gồm: Hồ Thị H, sinh năm 1960; Đặng Thị N, sinh năm 1961; Lê Thị Ng, sinh năm 1956 đang đánh bài ăn thua bằng tiền nên lực lượng công an tiến hành mời về trụ sở làm việc.

Tang vật tạm giữ: 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng; 07 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 08 cục xếp thành hình trụ; 36 miếng xếp thành hình vuông; 40 miếng xếp thành hình tam giác; tạm giữ của Bà Đặng Thị N số tiền 560.000 đồng; tạm giữ của bà Hồ Thị H số tiền 200.000 đồng; bà Lê Thị Ng tự nguyện giao nộp số tiền 150.000 đồng.

Quá trình điều tra Hồ Thị H, Đặng Thị N, Lê Thị Ng khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 12 năm 2022 Lê Thị Ng đến nhà của Đặng Thị N tại khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ để chơi, khi đến thì Ng gặp Bà Đặng Thị N, bà Hồ Thị H và người tên H bán vé số đang ngồi chơi. Sau đó các đối tượng tự thỏa thuận và thống nhất với nhau đi ra phần đất trống phía sau nhà Bà N chơi bài tứ sắc ăn thua bằng tiền. Hình thức chơi bài được chia thành 04 tụ, mỗi người được phát 300 lệnh, nếu người nào hết lệnh thì thua 150.000 đồng. Các đối tượng chơi hết một chếnh, đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phường P, quận M, thành phố Cần Thơ phát hiện mời về trụ sở công an làm việc. Khi tham gia đánh bài thì Lê Thị Ng không mang theo tiền nhưng dự định sử dụng 150.000 đồng vào mục đích đánh bài, đã tự nguyện giao nộp, quá trình đánh bài không thắng, không thua; Đặng Thị N mang theo 500.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bài, quá trình đánh bài thắng được 60.000 đồng, bị công an tạm giữ số tiền 560.000 đồng; Hồ Thị H mang theo số tiền 350.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bài, quá trình đánh bài thua 150.000 đồng, trong đó thua Bà N 60.000 đồng, thua bà H số tiền 90.000 đồng, bị công an tạm giữ 200.000 đồng.

Qua xác minh nhân thân thì Lê Thị Ng có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, cụ thể: Vào ngày 08 tháng 12 năm 2022 bị Công an quận M, thành phố Cần Thơ quyết xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt ngày 19 tháng 12 năm 2022. Tính đến thời điểm vi phạm tiền sự chưa được xóa.

Đối với Đặng Thị N, Hồ Thị H có tham gia đánh bạc nhưng tổng số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tội đánh bạc. Công an quận M, thành phố Cần Thơ đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với người tên Hai tham gia đánh bạc nhưng Ng, N và H không biết rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận M, thành phố Cần Thơ không làm việc được, khi nào làm việc được đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với phần đất trống các đối tượng sử dụng để đánh bạc là phần đất không do ai quản lý sử dụng nên không xem xét xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-OM ngày 06 tháng 4 năm 2023 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ để xét xử bị cáo Lê Thị Ng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M trình bày lời luận tội: Giữ quan điểm truy tố bị cáo Lê Thị Ng theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Qua phân tích những tình tiết giảm N trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 06 tháng đến 09 tháng tù giam.

Về vật chứng trong vụ án đề nghị áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng; 07 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 08 cục xếp thành hình trụ; 36 miếng xếp thành hình vuông; 40 miếng xếp thành hình tam giác, đã qua sử dụng dùng vào việc đánh bạc.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: tổng số tiền Việt Nam là 910.000 đồng, là tổng số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc, trong đó bị cáo Lê Thị Ng tự nguyện giao nộp số tiền 150.000 đồng; thu của Bà Đặng Thị N số tiền 560.000 đồng; của bà Hồ Thị H số tiền 200.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và rất ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm N hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo thể hiện tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; Biên bản ghi nhận phát hiện vụ đánh bạc ngày 26/12/2022; Biên bản tạm giữ tang vật ngày 26/12/2022; Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tang vật và chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ so vụ án, đủ căn cứ và cơ sở kết luận:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 26 tháng 12 năm 2022 tại khu vực T, phường P, quận M, thành phố Cần Thơ Công an phường P quận M qua kiểm tra phát hiện bị cáo Lê Thị Ng cùng các đối tượng Hồ Thị H, Đặng Thị N và người tên H (bán vé số không rõ nhân thân) đang đánh bài ăn thua bằng tiền. Hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền, cách tính ăn thua thỏa thuận bài được chia thành 04 tụ, mỗi người được phát 300 lệnh, nếu người nào hết lệnh thì thua 150.000 đồng. Bị cáo đã chơi hết một chếnh thì bị phát hiện.

Quá trình điều tra chứng minh được tổng số tiền bị cáo bị cáo Lê Thị Ng cùng các đối tượng dùng vào việc đánh bạc tứ sắc là 910.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), nhân thân bị cáo Lê Thị Ng có một tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa mà còn vi phạm nên hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền này của bị cáo Lê Thị Ng đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, việc đưa ra truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo là công dân Việt Nam, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bản thân gây ra. Bị cáo biết hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nhưng vì hám lợi, muốn thỏa mãn sự thắng thua trong bài bạc, kiếm tiền bằng những vận may rủi, không mất mồ hôi công sức nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, để có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là người cao tuổi có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang trực tiếp chăm sóc cháu nhỏ mới hơn 6 tuổi nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm N trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Tuy nhiên, xét bị cáo là người cao tuổi (67 tuổi) sức khỏe yếu, hành vi phạm tội do bộc phát, bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo đủ điều kiện theo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, thiết nghĩ, xử phạt bị cáo với hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Để tăng tính răn đe và ngăn ngừa khả năng tái diễn hành vi vi phạm cần áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo bị phạt tiền là phù hợp theo quy định khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với Hồ Thị H, Đặng Thị N có tham gia đánh bạc nhưng tổng số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự về về hành vi Đánh bạc, Gá bạc và Tổ chức đánh bạc nên Công an quận M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với người tên H tham gia đánh bạc nhưng bị cáo Ng, Bà N và H không biết rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận M, thành phố Cần Thơ không làm việc được. Do vậy, kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Đối với phần đất trống các đối tượng sử dụng để đánh bạc là phần đất không do ai quản lý sử dụng nên không đủ cơ sở xem xét xử lý.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo là người già thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ng phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Lê Thị Ng 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Thị Ng cho Uỷ ban nhân dân phường Phước Thới, quận M, thành phố Cần Thơ nơi cư trú của bị cáo để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Buộc bị cáo Lê Thị Ng bị phạt bổ sung ới mức tiền phạt phải nộp là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng; 07 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 08 cục xếp thành hình trụ; 36 miếng xếp thành hình vuông; 40 miếng xếp thành hình tam giác, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước tổng số tiền Việt Nam là 910.000 đồng (Trong đó: bị cáo Lê Thị Ng tự nguyện giao nộp số tiền 150.000 đồng; thu giữ của Bà Đặng Thị N số tiền 560.000 đồng; của bà Hồ Thị H số tiền 200.000 đồng).

(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận M quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKSOM ngày 06/4/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ.)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ