- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HSST Ngày 06 tháng 3 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Ông Đinh Quang Tuyến.
2/. Ông Trần Ngọc Quân.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Chung, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trúng, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/HS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10A/2023/QĐXXST- HS, ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K , sinh ngày 24/02/1998; Tại: TB, tỉnh VL ; Nơi thường trú: Kp 1, phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG ; Nơi ở hiện tại: KP 6, phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim T; Chị ruột: Có 02 người sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1996; Vợ: Lê Thị Ánh L; Con 01 người sinh năm 2021; Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/8/2022 và chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn K là người nghiện ma tuý, bắt đầu sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2021. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22/8/2022, do cần ma tuý để sử dụng nên K dùng điện thoại di động hiệu Iphone gọi cho người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân) hỏi mua ma tuý, T đồng ý.
Khoảng 20 giờ cùng ngày K nhờ Võ Hữu T sử dụng xe ô tô chở K đi công chuyện nhưng thực ra K đến điểm hẹn gần quán Karaoke G thuộc kp 8, phường DĐ, thành phố PQ để mua ma tuý. Đến nơi T đậu xe bên ngoài, còn K đi một mình vào bên trong hẽm Karaoke G gặp T mua 05 bịch ma tuý được đựng trong hộp bằng giấy màu trắng, với gia 5.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, K đi ra ngoài nhờ T chở về phòng trọ số 01, nhà trọ MQ thuộc kp6, thành phố PQ . K chiếc ra một ít ma tuý để sử dụng, số ma tuý còn lại K cất giấu phía dưới cái bàn trong phòng trọ để sử dụng.
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 24/8/2022, Công an thành phố Phú Quốc kiểm tra phòng trọ nơi K ở thì phát hiện K đang tàng trữ trái phép 05 bịch ma tuý nên lập biên bản bắt quả tang.
Ngày 31/8/2022, K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Phú Quốc khởi tố bắttạm giam để điều tra.
Tang vật vụ án thu giữ gồm: 03 bịch nylon, màu trắng có rãnh gài kích thước 5,3cm x 8,5cm x 7,3cm; 5,3cm x 7,5cm và 5,3cm x 7,7cm đã được niêm phong; 02 bịch nylon, màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ có kích thước lần lượt là 5,3cm x 08 cm; 5,3cm x 8,5cm bên trong tất cả các bịch nylon đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất đã được niêm phong; 01 hộp giấy màu trắng kích thước khoảng 10,2cm x 12,5cm (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động màu vàng đồng, hiệu Iphone, số IME11: 356173092870224, số IME12: 3561730926629024 đã qua sử dụng.
Tại bản kết luật giám định số: 832/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, chứa trong 05 (năm) bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 50,1484 gam.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của ChínhpPhủ.
Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKSPQ ngày 05/01/2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 11 năm đến 12 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như sau:
Tịch thu tiêu huỷ gồm:
- Các hạt tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 49,6306 gam, được đựng trong 05 bịch nylon và bao gói đựng mẫu được nêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 832/2022.
- 01 hộp giấy màu trắng kích thước khoảng 10,2cm x 12,5cm (đã qua sử dụng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu vàng đồng, hiệu Iphone, số IME11: 356173092870224, số IME12: 3561730926629024 đã qua sử dụng.
Đối với người đàn ông tên T chưa rõ nhân thân bán ma tuý cho Nguyễn Văn K , Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với Nguyễn Hữu T sử dụng xe mô tô chở Nguyễn Văn K , T không biết K đi mua ma tuý, nên không xử lý.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K không có ý kiến gì với bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phú Quốc. Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai hợp pháp, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định là phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước. Đối với các chất ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi nhưng không nhận thức tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân dẫn đến phạm tội. Vì vậy, lần phạm tội này cần phải xử phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo là hình phạt tù có thời hạn để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, tài sản không có gì nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Gồm 49,6306 gam là chất ma tuý, loại Methamphetamine sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 hộp giấy màu trắng kích thước khoảng 10,2cm x 12,5cm (đã qua sử dụng) là công cụ phạm tôi không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Riêng 01 điện thoại di động màu vàng đồng, hiệu Iphone, số IME11: 356173092870224, số IME12: 3561730926629024 đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung vào nhân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nguồn gốc ma túy: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc ma tuý mà bị cáo mua của người đàn ông tên T chưa rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với Nguyễn Hữu T sử dụng xe mô tô chở Nguyễn Văn K , nhưng T không biết K đi mua ma tuý nên không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 11 (mười một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 24 tháng 8 năm 2022.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn K .
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định 49,6306 gam là chất ma tuý, loại Methamphetamine sau giám định và 01 hộp giấy màu trắng kích thước khoảng 10,2cm x 12,5cm (đã qua sử dụng) và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màu vàng đồng, hiệu Iphone, số IME11: 356173092870224, số IME12: 3561730926629024 đã qua sử dụng. Theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 10/QĐ-VKSPQ ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (BL 98).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,7a và Điều 9 Luật gthi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp Kiên Giang; - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKS TP Phú Quốc; - Thi hành án DS TP Phú Quốc; - Bộ phận THAHS Tòa án; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. - Nhà tạm giữ; - Bị cáo. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa (đã ký) Hồ Văn Bình |