- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:22/2023/HS-ST Ngày 31-3-2023 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy Vân
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị ThA Thủy
2. Ông Đinh Quang Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thuận, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị ThA Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, xét xử công khai vụ án hình S sơ thẩm thụ lý số 18/2023/HSST ngày 02/3/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Văn S – Sinh ngày 10 tháng 4 năm 1976, tại Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Khối A, phường An Phú, thành Phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L1 và bà Lê Thị H2. Bị cáo có vợ là Hồ Thị N (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu X, sinh năm 1936 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
+ Bà Huỳnh Mỹ L, sinh năm 1941. Địa chỉ: Ấp T, xã Thuận Bình, huyện Thuận Hóa, tỉnh Long An (Vợ của bị hại).
+ Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp T, xã Thuận Bình, huyện Thuận Hóa, tỉnh Long An (Con của bị hại).
+ Ông Nguyễn Huỳnh Minh T, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn E, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. (Con của bị hại).
+ Bà Nguyễn Thị Lan C, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số N, Lương Thuận, xã Lương Quốc, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (Con của bị hại).
+ Bà Nguyễn Lan H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số K Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. (Con của bị hại).
+ Bà Nguyễn Lan P, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số Z Võ Mười, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. (Con của bị hại).
+ Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số Y đường số 5, phường 16, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. (Con của bị hại).
+ Ông Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp M, xã Phú, huyện Thuận Hóa, tỉnh Long An. (Con của bị hại).
+ Bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn T3, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Con của bị hại).
Bà Huỳnh Mỹ L ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H theo Văn bản ủy quyền ngày 21/10/2022. Ông Nguyễn Huỳnh Minh T, bà Nguyễn Thị Lan C, bà Nguyễn Lan H, bà Nguyễn Lan PH, bà Nguyễn Thị Ph, ông Nguyễn Hoàng G, bà Nguyễn Thị Lan A ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu H theo Văn bản ủy quyền ngày 17/10/2022. Ông Nguyễn Hữu H vắng mặt
- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần vận tải V; Địa chỉ: số X, phường Ngô Quyền, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Do ông Bùi Văn L2, chức vụ Tổng giám đốc làm đại diện. Ông Bùi Văn L2 ủy quyền cho ông Đặng Minh K, chức vụ Đội trưởng đội xe tham gia tố tụng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn S là nhân viên của Công ty CP vận tải V. Vào sáng ngày 14/10/2022, Trần Văn S được phân công điều khiển xe ô tô tải BKS 29H-784.90 đi từ huyện Đại Lộc đến Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn để chở hàng cho công ty. Vào lúc 10 giờ 30 phút, S điều khiển xe trên đường Quốc lộ 1A đến khu vực giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A và đường ĐH8.ĐB thuộc khối phố Quảng Hậu, phường Điện Nam Trung, thị xã Điện Bàn thì gặp tín hiệu đèn đỏ nên dừng lại. Khi tín hiệu đèn chuyển sang màu xanh thì S bật đèn xi nhan phải đồng thời điều khiển xe rẽ phải vào đường ĐH8.ĐB. Do thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên phần đầu xe ô tô tải do S điều khiển đã tông vào phía sau xe đạp do ông Nguyễn Hữu X điều khiển đi trên Quốc lộ 1A theo hướng Tam Kỳ - Đà Nẵng khiến xe đạp ông X ngã xuống đường. Ông X bị bánh xe ô tô chèn qua người và tử vong tại chỗ.
Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:
+ Thời điểm xảy ra tai nạn trời mưa, ánh sáng tự nhiên, tầm nhìn bị hạn chế. Hiện trường xảy ra tai nạn tại ngã tư G nhau giữa đường ĐH8.ĐB và Quốc lộ 1A. Đường Quốc lộ 1A mặt đường trải nhựa, bằng phẳng, rộng 15m. Đường ĐH8.ĐB được trải thảm bê tông, rộng 11m, có hai làn xe di chuyển và không có dải phân cách ở giữa.
+ Chọn điểm mốc là trụ đèn ký hiệu CS03/24tại đầu dãy phân cách và chọn mép đường bên phải (theo hướng Tam Kỳ - Đà Nẵng) của Quốc lộ 1A làm mép đường chuẩn. Tại hiện trường xe ô tô tải BKS 29H-784.90 dừng đổ trên đường ĐH8.ĐB, đầu xe quay về hướng Đông, đuôi xe quay về hướng Tây; trục bánh xe sau bên phải của xe ô tô tải cách trục bánh trước xe đạp là 39,7m và cách mép đường bên phải đường ĐH8 là 0,3m và trục bánh trước bên phải của xe ô tô tương ứng với mép đường bên phải ĐH8. Xe đạp ngã nghiêng sang phải trên mặt đường, đầu xe quay về hướng Đông, đuôi xe quay về hướng Tây; trục bánh sau xe đạp cách mép đường chuẩn 0,4m, cách mốc hiện trường là 20,3m, trục bánh trước xe đạp nằm ở hướng Đông so với mép đường chuẩn và cách mép đường chuẩn 0,4m.
+ Mảnh vỡ có diện 40cm x 45cm, trên mặt đường. Tâm của mãnh vỡ cách mép đường chuẩn 0,6m và cách trục bánh trước xe đạp là 2,9m.
+ Tử thi ông Nguyễn Hữu X nằm nghiêng; đầu chếch về hướng Đông, cách trục bánh trước xe đạp là 4,6m và cách mép đường chuẩn là 1,3m; hai chân chếch về hướng Tây, tâm giữa hai chân cách mép đường chuẩn là 2,5m. Trên nền đường, xung quang vùng đầu ghi nhận dấu vết máu, mô da... của nạn nhân trên diện 60cm x 40cm.
Căn cứ Bản giám định pháp y tử thi số 224.22/KL-KTHS(PY) ngày 24/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình S Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: ông Nguyễn Hữu X chết do sốc chấn thương, ngừng hô hấp – tuần hoàn không hồi phục, hậu quả của đa chấn thương: chấn thương sọ não hở, chấn thương ngực kín, gãy khớp vai, gãy khung xương chậu, đụng dập nội tạng thoát vị ra ngoài.
Căn cứ Kết luận giám định số 1536/KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng xác định:
+ Dấu vết hằn, trượt, xước kim loại tại mặt ngoài bên phải cản trước của xe ô tô tải BKS 29H-784.90, có Cều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải phù hợp với dấu vết hằn, trượt, xước kim loại tại mặt cạnh đầu bu-lông bên trái yên sau (vị T L kết yên sau với thanh kim loại dọc cố định vào trục bánh xe sau), có chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải. Các dấu vết này hình thành phù hợp khi xe đạp chuyển động phía trước đầu xe ô tô (từ phải qua trái) và xe ô tô chuyển động tiến va chạm với xe đạp.
+ 02 hai dấu vết trượt, bám dính chất màu xám tại góc bên phải cản trước của xe ô tô tải BKS 29H – 784.90, cùng Cều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải phù hợp với dấu vết trượt, mất chất màu xám tại mặt trước đầu bọc tay cầm lái và đầu tay phA bên trái của xe đạp, cùng có Cều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải. Các dấu vết này hình thành phù hợp khi xe đạp đã ngã về bên phải và xe ô tô chuyển động tiến va chạm với các bộ phận tay cầm lái và tay phanh bên trái của xe đạp.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 103/HĐ.ĐG ngày 27/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình S thị xã Điện Bàn kết luận 01 (một) xe đạp thô sơ, sườn inox màu trắng vành tăm bị hư hỏng hoàn tòan có giá trị là 450.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Điện Bàn đã tạm giữ:
- 01 đĩa DVD được đựng trong phong bì niêm phong chứa 02 đoạn video Tch xuất từ camera ghi lại diễn biến vụ tai nạn: lưu cùng hồ sơ vụ án.
- 01 Giấy phép lái xe hạng C số 490176008827 mang tên Trần Văn S (chuyển cùng hồ sơ vụ án).
- 01 xe ô tô tải BKS 29H – 784.90, 01 giấy bên nhận thế chấp xe ô tô BKS 29H-784.90, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe số EA 0256980: đã trao trả cho đại diện của Công ty CP vận tải V.
- 01 xe đạp thô sơ, sườn inox màu trắng: đã trao trả lại cho ông Nguyễn Hữu Thịnh (người đại diện gia đình ông Nguyễn X).
Về dân S: Trần Văn S đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Hữu X số tiền 65.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, truy tố bị cáo Trần Văn S về tội: “Vi phạm quy định về tham gia G thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình S.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
+ Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình S, xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thửa thách từ 18 đến 24 tháng.
+ Về vật chứng: Đề nghị tuyên trả 01 giấy phép lái xe hạng hạng C số 490176008827 mang tên Trần Văn S cho bị cáo. Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD được đựng trong phong bì niêm phong chứa 02 đoạn video trích xuất từ camera ghi lại diễn biến vụ tai nạn
Đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, đồng thời cũng nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện bị đơn không có ý kiến gì về bồi thường dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/10/2022 tại ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ 1A và đường ĐH8.ĐB thuộc khối Quảng Hậu, phường Điện Nam Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Trần Văn S điều khiển xe ô tô tải BKS 29H-784.90 không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên đã tông phía sau xe đạp do ông Nguyễn Hữu X điều khiển đi phía trước cùng Cều, hậu quả ông X tử vong tại chỗ, xe đạp bị hư hỏng. Hành vi của Trần Văn S đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật G thông đường bộ dẫn đến hậu quả một người chết. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội „„Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ“ theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Tính mạng của con người là vô giá để đảm bảo sự an toàn của mỗi con người khi lưu thông trên đường với nguồn nguy hiểm cao độ thì Nhà nước điều chỉnh bằng Luật giao thông đường bộ và bắt buộc mỗi cá nhân khi tham gia giao thông phải tuân thủ đúng, bị cáo Trần Văn S đã có giấy phép lái xe, hiểu luật giao thông và biết khi tham gia giao thông là phải chấp hành đúng nhưng do cẩu thả, chủ quan, bị cáo S chuyển hướng không quan sát để gây ra tai nạn, hậu quả ông Nguyễn Hữu X chết. Vì vậy, cần phải xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị hại có Đơn bãi nại và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đồng thời, xét bản thân bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, việc gây ra tai nạn là lỗi vô ý nên để tạo điều kiện cho bị cáo tự rèn luyện, tu dưỡng thành người công dân tốt, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thì bị cáo vẫn có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình S cho bị cáo được hưởng án treo, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, HĐXX xét thấy bị cáo gây tai nạn khiến 01 người chết, gây mất mát đau thương cho gia đình bị hại, phạm tội nghiêm trọng nên không áp dụng Điều 54 BLHS mà áp dụng khung hình phạt cao hơn với mức đề nghị của Viện kiểm sát để ren đe bị cáo.
Về vật chứng:
- Qúa trình giải quyết vụ án Cơ quan Điều tra tạm giữ và xử lý: 01 xe ô tô tải BKS 29H – 784.90, 01 giấy bên nhận thế chấp xe ô tô BKS 29H-784.90, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe số EA 0256980 đã trao trả cho đại diện của Công ty CP vận tải và tH mại Vitranimex; 01 xe đạp thô sơ, sườn inox màu trắng đã trao trả lại cho ông Nguyễn Hữu Thịnh (đại diện gia đình ông Nguyễn X). Việc xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật.
- Đối với 01 đĩa DVD được đựng trong phong bì niêm phong chứa 02 đoạn video trích xuất từ camera ghi lại diễn biến vụ tai nạn nên tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số 490176008827 mang tên Trần Văn S, đây là vật chứng không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo. (Vật chứng đang được tạm giữ theo hồ sơ vụ án)
Về phần dân sự: Đã thỏa thuận xong, đại diện hợp pháp cho người bị hại, bị đơn dân sự không yêu cầu, ý kiến gì nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn S 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (31/3/2023)
Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường An Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú, phối hợp cùng với gia đình để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Trong thời gian thử thách án treo người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình S.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số 490176008827 mang tên Trần Văn S cho bị cáo Trần Văn S. Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD được đựng trong phong bì niêm phong chứa 02 đoạn video trích xuất từ camera ghi lại diễn biến vụ tai nạn.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quôc Hội buộc bị cáo Trần Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình S sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân S thì người được thi hành án dân S, người phải thi hành án dân S có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân S; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân S.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kế từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - C cục Thi hành án Dân S; - Lưu | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Thúy Vân |