vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 28/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
TP. HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS - ST
Ngày: 28/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Lương Anh Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Phương Lan Thư ký phiên tòa:

Bà Huỳnh Phương Minh - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2023/HS- ST ngày 16/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST - HS ngày 17/02/2023 đối với bị cáo: Phạm Văn T; sinh năm 1978; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xã X, huyện X, Nam Định; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị Y; vợ là Phạm Thị L; có 05 con: con lớn sinh năm 2001 con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Ngày 11/04/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 27/12/2012 (Án số:111/2007/HSST, đã xóa án tích); Bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy, khoảng 10h30 ngày 17/11/2022, Phạm Văn T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F2-8096 đi đến khu vực thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Sau đó T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng.

Khoảng 10h45 phút cùng ngày, tổ công tác - Công an thị trấn Văn Điển làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội, phát hiện Phạm Văn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện giao nộp 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng và khai nhận là ma túy Heroine, đang tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở để làm việc. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của T: 01 xe máy biển kiểm soát 18F2-8096; 01 điện thoại Iphone X màu trắng, bên trong có chứa sim số 0898729325; 01 đồng hồ đeo tay màu vàng kim loại hiệu ROSRA.

Xét nghiệm ma túy đối với Phạm Văn T, kết quả: Dương tính với chất ma túy Heroine.

Ngày 17/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng được gói trong 01 gói giấy màu trắng thu giữ của Phạm Văn T. Tại bản Kết luận giám định số 7928 ngày 24/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,217 gam”. Cơ quan giám định sử dụng hết 0,034 gam để giám định, còn lại 0,183 gam sau khi giám định hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì, Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra T khai không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này, nên Cơ quan Điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe máy biển kiểm soát 18F2-0000 thu giữ của Phạm Văn T là anh Bùi Nam G (sinh năm:1987; Chỗ ở: xã Đ, huyện X, Nam Định). Anh G là em rể, cho T mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết T sử dụng xe máy đi mua ma túy. Anh G ủy quyền cho vợ là chị Phạm Thị T (sinh năm: 1987; Chỗ ở: xã Đ, huyện X, Nam Định) nhận lại chiếc xe máy trên. Ngày 10/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì đã trả lại cho chị Thêu chiếc xe máy bị thu giữ, chị Thêu đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về dân sự.

Đối với 01 điện thoại Iphone X màu trắng, bên trong có chứa sim số 0898729325; 01 đồng hồ đeo tay màu vàng kim loại hiệu ROSRA thu giữ của Phạm Văn T, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội, T ủy quyền cho chị Phạm Thị T được nhận lại số tài sản trên nên ngày 10/02/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì đã trả lại cho chị T số tài sản trên.

Bản cáo trạng số 13/CT - VKSTT ngày 14/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Phạm Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18- 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Hồi 10h45 phút ngày 17/11/2022, tại khu vực thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội, khi Phạm Văn T đang tàng trữ trái phép 0,217 gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an thị trấn V kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ tang vật. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình xem xét bị cáo thành khẩn khai báo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: không.

- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân bị cáo: bị cáo có 1 tiền án tuy tiền án đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu..

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo có trọng lượng còn lại sau giám định 0.0.183 gam là chất nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022.

3. Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :

Tịch thu tiêu hủy 0,183 gam ma túy loại heroin (khối lượng còn lại sau khi giám định. Vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2023 ).

4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ