- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Thị Cảnh và đồng phạm phạm tội " Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè: Các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22 /2023/HS-ST Ngày 31/03/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tường.
Bà Lương Thị Huân.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Vận - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 31 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2022/TLST - HS, ngày 12 tháng 12 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27 /2023/QĐST - HS, ngày 10 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: 1. Nguyễn Thị C, tªn gäi kh¸c: Không.
Sinh năm: 1986, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
N¬i cư trú: Xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Công V, con bà: Lê Thị H; Chồng: Trần Văn H, con: Có 02 con(lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2011); Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, ngày 16/11/2017 bị Công an huyện Quỳ Hợp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa chấp hành; Tiền án: Có 01 tiền án tại bản án số 04/2018/HSST ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, xử phạt Nguyễn Thị C 8.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng. Nguyễn Thị C chấp hành hình phạt xong ngày 27/9/2022 nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2022 đến ngày 25/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳ Hợp. Từ ngày 26/11/2022 đến nay bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.
(Có mặt).
2. Trần Thế U, tªn gäi kh¸c: Không.
Sinh năm: 1967, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
N¬i cư trú: Xóm H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn N (đã chết), con bà: Đậu Thị Đ (đã chết); Vợ: Hoàng Thị V, con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 47/2022/HSST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp xử phạt bị cáo Trần Thị U 26.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” ; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳ Hợp từ ngày 27/9/2022, đến ngày 19/01/2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.
(Có mặt).
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Hồ Thị A, sinh năm 1980.
Trú tại: xóm N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có mặt).
2. Hồ Thị D, sinh năm 1991.
Trú tại: xóm M, xã M,huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(có mặt).
3. Hồ Thị X, sinh năm 1985.
Trú tại xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt).
4. Hồ Thanh N, sinh năm 1974
Trú tại: xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt).
5. Trần Ngọc L, sinh năm 1973.
Trú tại: xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt).
6. Ngô Thị O, sinh năm 1986. Trú tại: xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt).
7. Hồ Đình L, sinh năm 1974. Trú tại: xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt).
8. Hoàng Thị H, sinh năm 1996. Trú tại: xóm H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 26/9/2022, tại nhà ở của Hồ Thị A ở xóm N, xã T, huyện Q, Công an huyện Quỳ Hợp bắt quả tang Hồ Thị A, Trần Thế U, Hồ Thị D, Hồ Thị X, Hồ Thanh N đang đánh bạc. Thu giữ số tiền trên chiếu là 2.800.000 đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ màu xanh đã lọc bỏ các quân bài từ 10-K (gồm có 72 quân bài), 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu sắc đã qua sử dụng. Kết quả điều tra xác định có các đối tượng Hồ Thị A, Hồ Thị D, Hồ Thị X, Trần Thế U, Hồ Đình L, Nguyễn Thị C, Trần Ngọc L, Ngô Thị O, Hồ Thanh N tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào (đánh bài mười). Dùng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, loại bỏ các quân bài 10, J, Q, K chỉ còn 36 quân. Mỗi ván phát cho mỗi người 03 quân bài, mỗi người phải bỏ từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng để cược, ai có điểm lớn là ăn cả. Nếu bài bằng điểm nhau thì tính chất của quân bài, chất rô là chất lớn nhất đến cơ, chuồn, cuối cùng là bích. Điểm lớn nhất là 10, thấp nhất là tổng số điểm tính theo hàng đơn vị thứ hai. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 4.264.000 đồng.
Kết luận giám định số 408/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 11/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Số tiền 37.251.000 đồng (ba mươi bảy triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng) (có bảng kê chi tiết mệnh giá, mã số hiệu kèm theo) gồm 55 (năm mươi lăm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); 38 (ba mươi tám) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); 17 (mười bảy) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng); 06 (sáu) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng); 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng); 06 (sáu) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng (một nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật.”
Bản cáo trạng số 02/CT-VKSQH, ngày 08/12/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Căn cứ và kết quả điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị C, Trần Thế U các đối tượng liên quan khai nhận: Sáng ngày 26/9/2022, Hồ Thị A gọi điện thoại cho Trần Thế U, Hồ Thị D để rủ đến nhà An chơi, đánh bạc. Khoảng 9 giờ cùng ngày, Hồ Đình L, Hồ Thanh N đến nhà An chơi. Tại đây, An rủ L, N đánh bạc thì cả hai người đồng ý. A trải chiếu nhựa ra phòng kho, chuẩn bị 02 bộ bài tú lơ khơ. Sau đó, A, L, N cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào (đánh bài mười). Dùng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, loại bỏ các quân bài 10, J, Q, K chỉ còn 36 quân. Mỗi ván phát cho mỗi người 03 quân bài, mỗi người phải bỏ từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng để cược, ai có điểm lớn là ăn cả. Nếu bài bằng điểm nhau thì tính chất của quân bài, chất rô là chất lớn nhất đến cơ, chuồn, cuối cùng là bích. Điểm lớn nhất là 10, thấp nhất là tổng số điểm tính theo hàng đơn vị thứ hai. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Trần Thế U đến và cùng tham gia đánh bạc. Lần lượt sau đó có Nguyễn Thị C, Hồ Thị D đến và tham gia đánh bạc. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Hồ Thanh N nghỉ đánh bạc. Khoảng 12 giờ cùng ngày Trần Ngọc L đến tham gia đánh bạc. Lần lượt sau đó có Ngô Thị O, Hồ Thị X đến tham gia đánh bạc. Lần lượt Trần Ngọc L, Ngô Thị O nghỉ đánh bạc và đi về nhà. Số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc được xác định như sau: Hồ Thị A thu tiền hồ của Hồ Đình L, Trần Thế U, Hồ Thị D, Trần Ngọc L mỗi người 100.000 đồng. Hồ Thị A sử dụng 400.000 đồng tiền hồ thu được để đánh bạc. Hồ Thị D sử dụng 1.000.000 đồng do Hồ Thanh N trả nợ để đánh bạc. Số tiền 10.985.000 đồng Hồ Thị D mang theo không sử dụng để đánh bạc. Hồ Thanh N mang theo số tiền 4.314.000 đồng, sử dụng 314.000 đồng để đánh bạc, trả nợ cho Hồ Thị D 1.000.000 đồng là khoản nợ N vay Dung thời gian trước đó. Số tiền 3.000.000 đồng còn lại không sử dụng vào việc đánh bạc. Hồ Đình L mang theo và sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Trần Thế U mang theo 13.452.000 đồng, sử dụng 1.450.000 đồng để đánh bạc; trong đó đã đưa ra đánh 1.300.000 đống . Số tiền 12.002.000 đồng là tiền bán xăng ngày 21/9/2022 của cửa hàng xăng dầu Đ, nơi Trần Thế U làm việc. Số tiền này U không sử dụng để đánh bạc. Trần Ngọc L mang theo và sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc. Ngô Thị O mang theo và sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc. Hồ Thị X mang theo 3.600.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, số tiền 3.300.000 đồng là tiền thu mua sắt vụn, không sử dụng để đánh bạc. Nguyễn Thị C mang theo và sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi Lúc này còn Hồ Thị A, Trần Thế U, Hồ Thị D, Hồ Thị X, Nguyễn Thị C, Hồ Đình L đang đánh bạc thì bị Công an huyện Quỳ Hợp phát hiện, Hồ Đình L, Nguyễn Thị C bỏ chạy. Công an thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 2.800.000 đồng, tiền thu giữ trên người các đối tượng là 34.451.000 đồng, 06 điện thoại di động các loại và 04 xe mô tô đã qua sử dụng. Các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U đều nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc”.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị Cảnh.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị C từ 06 đến 09 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thế U.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thế U từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đối với Hồ Thị A, Hồ Thị D, Hồ Thị X, Hồ Đình L, Trần Ngọc L, Ngô Thị O, Hồ Thanh N tham gia đánh bạc với tổng số tiền dưới 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi, về tội đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc. Vì vậy, Công an huyện Quỳ Hợp đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các đối tượng đã nộp tiền phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử không phải xem xét thêm.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước tiền sử dụng vào việc đánh bạc số tiền 2.964.000 đồng; Trong đó, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 2.800.000 đồng; Trong tiền thu của Trần Thế U có số tiền 150.000 đồng và thu của Hồ Thanh N 14.000 đồng là tiền U và N sử dụng vào việc đánh bạc
Số tiền còn lại gồm : Hồ Thị A số tiền 5.000.000 đồng ; Hồ Thị X số tiền 3.300.000 đồng; Trong số tiền thu Trần Thế U 12.152.000 đồng, có 150.000 đồng U sử dụng để đánh bạc; Còn lại số tiền 12.002.000 đồng, U không sử dụng vào việc đánh bạc, đây là tiền U bán xăng của cửa hàng xăng dầu Đ (Chủ cửa hàng là chị Hoàng Thị H; Trong số tiền thu giữ của Hồ Thanh N số tiền 3.014.000 đồng, có 14.000 đồng N sử dụng để đánh bạc, còn lại số tiền 3.000.000 đồng N không sử dụng vào việc đánh bạc; Hồ Thị D số tiền 10.985.000 đồng, là tiền của các cá nhân không sử dụng vào việc đánh bạc nên đề nghị cần trả lại cho các chủ sở hữu.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ có số IMEL 1: 866376040398270, số IMEI2: 866376040398262, có gắn sim 0358.548.488 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị Cảnh. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím than số IMEL: 864326055516433 có gắn sim 0964.297.454 thu giữ của Trần Thế Uy đề nghị trả lại cho các bị cáo.
02 bộ bài tú lơ khơ màu xanh đã lọc bỏ các quân bài từ 10-K (gồm có 72 quân bài) là công cụ phạm tội; 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu sắc đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo Nguyễn Thị C nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Bị cáo Trần Thế U nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Quỳ Hợp và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, gồm: Biên bản sự việc lập ngày 26/09/2022; Các biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 26/09/2022; Các biên bản mở niêm phong kiểm tra số lượng tờ tiền, mệnh giá tiền, mã số hiệu, tổng số tiền lập ngày 31/10/2022 và ngày 02/11/2022; Kết luận giám định số 408/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 11/11/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An xác định: Tổng số tiền bị thu giữ là 37.251.000 đồng là tiền thật. Giấy nộp vào kho bạc huyện Quỳ Hợp lập ngày 16/11/2022. Các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài cào (bài mười) được thua bằng tiền để nhằm mục đích thu lợi bất chính. Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc là 4.264.000 đồng. Tuy tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo Nguyễn Thị C có 01 tiền sự theo Quyết định xử phạt vi phạm hành hành chính số 109 ngày 16/11/2017 của Công an huyện Quỳ Hợp xử phạt Nguyễn Thị C số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị cáo Trần Thế U có 01 tiền án về tội đánh bạc tại bản án số 47/2022/HSST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, xử phạt Trần Thế U 26.000.000 đồng. Do đó, hành vi trên của các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U đã xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, an ninh địa phương. Là tệ nạn xã hội cần được loại trừ nhưng các bị cáo không lo lao động để có thu nhập chính đáng mà sát phạt lẫn nhau để hưởng lợi bất chính nên đã lao vào con đường phạm tội. Cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần phân hoá vai trò từng bị cáo, tình tiết giảm nhẹ để xét xử các bị cáo đúng pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Thị C giữ vai chính trong vụ án nên cần phải xét xử nghiêm. Đặc biệt, bị cáo có 01 tiền án nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” đối với bị cáo, nhưng có xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt vì bị cáo Nguyễn Thị C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trần Thế U là người giữ vai thứ hai trong vụ án nên cần phải xét xử nghiêm, nhưng cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt vì các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo là người có công được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì.
Vật chứng vụ án: Số tiền bị thu giữ là 37.251.000 đồng. Trong đó, số tiền 2.800.000 đồng thu tại chiếu bạc. Trong tiền thu của Trần Thế U có số tiền 150.000 đồng và thu của Hồ Thanh N 14.000 đồng là tiền U và N sẽ sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại gồm : Hồ Thị A số tiền 5.000.000 đồng ; Hồ Thị X số tiền 3.300.000 đồng; Trong số tiền thu Trần Thế U 12.152.000 đồng, có 150.000 đồng U sử dụng để đánh bạc; Còn lại số tiền 12.002.000 đồng, U không sử dụng vào việc đánh bạc, đây là tiền U bán xăng của cửa hàng xăng dầu Đ (Chủ cửa hàng là chị Hoàng Thị H); Trong số tiền thu giữ của Hồ Thanh N số tiền 3.014.000 đồng, có 14.000 đồng N sử dụng để đánh bạc, còn lại số tiền 3.000.000 đồng Nguyện không sử dụng vào việc đánh bạc; Hồ Thị D số tiền 10.985.000 đồng, là tiền của các cá nhân không sử dụng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho các chủ sở hữu.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ có số IMEL 1: 866376040398270, số IMEI2: 866376040398262, có gắn sim 0358.548.488 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị Cảnh. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím than số IMEL: 864326055516433 có gắn sim 0964.297.454 thu giữ của Trần Thế U cần trả lại cho các bị cáo.
02 bộ bài tú lơ khơ màu xanh đã lọc bỏ các quân bài từ 10-K (gồm có 72 quân bài) là công cụ phạm tội; 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu sắc đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyªn bè: Các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị C.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị C 07 (bảy) tháng tù. Thời gian tù được tính từ ngày bắt hoặc tự nguyện thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 30/9/2022 đến ngày 25/11/2022.
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Trần Thế Uy.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thế U 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Thế U cho chính quyền UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo Trần Thế Uy thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách bị cáo Trần Thế U cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Thế U phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Thế U 10.000.000 (mƣời triệu) đồng.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tiền dùng để đánh bạc số tiền 2.964.000 (Hai triệu chín sáu mươi tư nghìn) đồng. Trong đó, 2.800.000 đồng thu tại chiếu bạc; Trần Thế U số tiền 150.000 đồng và Hồ Thanh N 14.000 đồng.
Trả lại số tiền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Hồ Thị A số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng ; Hồ Thị X số tiền 3.300.000 (Ba triệu ba trăm nghìn) đồng; Hoàng Thị H số tiền 12.002.000 (Mười hai triệu không trăm linh hai nghìn) đồng; Hồ Thanh N số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng; Hồ Thị D số tiền 10.985.000( Mười triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn) đồng.
(Toàn bộ số tiền trên đang tạm gửi tại biên bản giao nhận tài sản giữa Công an huyện Quỳ Hợp và Kho bạc Nhà nước Quỳ Hợp ngày 16/11/2022).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị C 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ có số IMEL 1: 866376040398270, số IMEI2: 866376040398262, có gắn sim 0358.548.488 đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Trần Thế U 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím than số IMEL: 864326055516433 có gắn sim 0964.297.454.
Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ màu xanh đã lọc bỏ các quân bài từ 10-K (gồm có 72 quân bài) là công cụ phạm tội; 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu sắc đã qua sử dụng.
Đặc điểm chi tiết vật chứng (02 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa) được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09/12/2022, giữa Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Các bị cáo Nguyễn Thị C và Trần Thế U phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Vắng mặt 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 31/03/2023. Đối với những người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An, - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An, - VKS ND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; -VKSND huyện Quỳ hợp, - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ hợp, - TH A DS huyện Quỳ hợp, - UBND xã Đ; UBND xã T, huyện Q tỉnh Nghệ An,. - Bị cáo; - Lưu HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Văn Thanh Lƣơng Văn Công | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Quán Vi Tuấn CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quán Vi Tuấn |