- Tranh chấp gì? án hình sự — "T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HS-ST Ngày: 16/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ T gồm có:
T phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ
Các Hội T nhân dân: Ông Nguyễn Thế Bình
Ông Nguyễn Văn Hà
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - T tra viên Toà án nhân dân huyện N
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ T xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 04/5/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Quang T - Sinh năm: 1965
Nơi ĐKNKTT, nơi ở: Xóm 2, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Đảng phái: Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 135-QĐ/UBKTHU ngày 27/3/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy N; con ông Vũ Ngọc Đ – Sinh năm: 1924 (Đã chết); con bà Vũ Thị N – Sinh năm: 1935 (Đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Th – Sinh năm: 1971 và 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2023 đến ngày 24/3/2023 chuyển tạm giam hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 22/3/2023, tổ công tác Công an xã Đ, làm nhiệm vụ tại khu vực đường liên xã thuộc xóm N, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Vũ Quang T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã thu giữ tại vành mũ của T đang đội trên đầu 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận đó là Heroine, T mua về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Tổ công tác Công an xã Đ đã mời người chứng kiến và đưa Vũ Quang T cùng vật chứng về Ủy ban nhân dân xã Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng vào 01 phong bì thư kí hiệu M là chất Heroine và 01 chiếc mũ cối, màu xanh.
Cùng ngày, Công an xã Đ, huyện N đã bàn giao hồ sơ vụ án, vật chứng và Vũ Quang T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N giải quyết theo T quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Quang T, tại xóm 2, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định không thu giữ đồ vật, tài liệu.
Tại Bản kết luận giám định số 514/KL-KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng trong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại ma túy Heroine, khối lượng mẫu M là 0,156 gam. (Bút lục số: 21)
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Vũ Quang T đã khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, Vũ Quang T đi xe ôm từ nhà ở xóm 2, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định xuống chợ Tam Thôn, xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi T xuống xe và tiếp tục đi bộ thì gặp 01 người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, T hỏi mua ma túy. Người này đồng ý, T đưa 200.000 đồng và nhận lại 01 gói ma túy được gói trong gói giấy bạc màu vàng. T cầm gói ma túy bỏ vào vành mũ của T đang đội trên đầu rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến khu vực đường liên xã thuộc xóm Nam Giao Cù Trung, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định, thì bị tổ công tác Công an xã Đ bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Đối với 01 phong bì niêm phong số: 514/KL-KTHS ngày 24/3/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định và 01 chiếc mũ cối, màu xanh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện N để xử lý.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân.
Bản cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vũ Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Quang T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Vũ Quang T từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy số Heroin đã thu giữ trong phong bì niêm phong số: 514/GĐKTHS ngày 24/3/2023 và chiếc mũ cối màu xanh (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/4/2023).
4. Án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Vũ Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ T.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được T tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về T quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định số:514/GĐKTHS ngày 24/3/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ, ngày 22/3/2023, tại khu vực đường liên xã thuộc xóm Nam Giao Cù Trung, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định, Vũ Quang T đang tàng trữ trái phép 0,156 gam Heroine tại vành mũ của T đang đội trên đầu mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định phát hiện bắt người phạm tội quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện; khối lượng Heroin bị cáo tàng trữ là 0,156 gam nên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Quang T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
. Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Vũ Quang T có hoàn cảnh khó khăn, tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vũ Quang T ngày 22/3/2023, hiện chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ điều tra xử lý.
. Xử lý vật chứng: Vật chứng là số Heroin đã thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành, chiếc mũ cối màu xanh bị cáo dùng vào việc cất giữ ma túy hiện không còn giá trị sử dụng sẽ bị tịch thu cho tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ T theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vũ Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Quang T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy số Heroin đã thu giữ trong phong bì niêm phong số: 514/GĐKTHS ghi hoàn trả mẫu vật và chiếc mũ cối màu xanh (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/4/2023).
3. Án phí: Bị cáo Vũ Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ T.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện N; - Công an huyện N; - UBND xã N; - Bị cáo; - Lưu HS; Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ T T PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thọ |