vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 05/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 14/10/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS - ST
Ngày: 05 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Duy Phu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tích

2. Ông Phạm Việt Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/TL ST-HS ngày 09/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 23/3/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L; vợ Phạm Thị L1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 14/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 23/10/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, có mặt.

- Người làm chứng: 1. Chị Bùi Thị Thu H,

2. Ông Nguyễn Văn Nh (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Q khai: Hồi 21 giờ 12 phút ngày 13/10/2022, Nguyễn Đức P, sinh năm 1989, trú tại: thôn V, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng gọi điện cho Q, bảo Q đến nhà P lấy ma túy P gài ở cổng đem đến quán Karaoke Gia đình ở thị trấn P, huyện Kim Thành để cùng nhau sử dụng. Q đồng ý. Q đi bộ đến cổng nhà P lấy một túi nilon gài sẵn ở cổng rồi thuê xe ôm của một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ đi đến quán Karaoke Gia đình. Hồi 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi Q đang đứng đợi P ở trước cửa quán Karaoke Gia đình thuộc khu G, thị trấn P thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại bàn tay phải Q đang cầm 01 túi nilon bên trong có 10 viên nén màu hồng và 03 túi nilon đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1280.

Tại bản Kết luận giám định số 550/KL-KTHS ngày 16/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 10 viên nén màu hồng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có tổng khối lượng 5,100 gam là ma túy, loại MDMA; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,676 gam là ma túy, loại Ketamine.

Tại Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 08-03-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát phân tích chứng cứ tại hồ sơ và lời khai bị cáo tại phiên tòa, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 06 năm 03 tháng đến 06 năm 9 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/10/2022.

- Về vật chứng: + Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định.

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 1280.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 13/10/2022, tại khu vực trước cửa quán Karaoke Gia đình thuộc khu G, thị trấn P, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Q có hành vi cất giấu trái phép 5,100 gam ma túy loại MDMA và 1,676 gam ma túy loại Ketamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội:" Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do bị cáo cất giấu hai chất ma túy mà tổng khối lượng của hai chất tương đương với khối lượng ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, cần có mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất hành vi, nhân thân của bị cáo không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Chiếc điện thoại di động không phải vật chứng áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

+ Số mẫu vật hoàn lại sau giám định, áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.

Bị cáo khai nguồn gốc ma tuý là của Nguyễn Đức P, sinh năm 1989 ở thôn V, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Quá trình điều tra, P vắng mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hành vi của P tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau, không xem xét trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 14/10/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 4,905 gam MDMA, 1,492 gam Ketamine, 04 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 1280.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 4 năm 2023 giữa Công an huyện Kim Thành với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành).

4.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ