vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Về tạm giam: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Lê Văn H 45 ngày (kể từ ngày 24/02/2023) để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Văn Hòa “Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC H
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày: 24-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n hắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

ng Lý Văn Hùng;

Bà Nguy n Thị Rạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị im Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: ng Phạm Thành Dương - iểm sát viên;

Trong ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/TLST-HS, ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn H , sinh ngày 01/01/1987.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 59/3 khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh V; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: inh; Tôn giáo: hông; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Lê Văn G, sinh năm 1963 (chết); Mẹ: Võ Ngọc H, sinh năm 1968 (sống); Bản thân có vợ tên Nguy n Thị Thùy D, sinh năm: 1999 (chưa đăng ký kết hôn); Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 07/04/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt Lê Văn H 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Gá bạc”, H đang chấp hành thời gian thử thách án treo; Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/10/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Vũ Phúc L, sinh năm 1975; Địa chỉ: A11/14 Ấp 1, xã L, huyện B, thành phố H . (vắng mặt);

- Trương Minh T, sinh năm 1983; Địa chỉ thường trú: Ấp 2, xã L, huyện C, tỉnh L; Tạm trú: Ấp 1, xã H, huyện Đ, tỉnh L. (vắng mặt);

- Đỗ Văn Hoài H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T.(vắng mặt);

- Huỳnh Tấn S, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp 3B, xã H, huyện Đ, tỉnh L. (vắng mặt);

- Nguy n Văn H2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp 1A, xã H, huyện Đ, tỉnh L. (vắng mặt);

- Nguy n Văn L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp 2, xã H, huyện Đ, tỉnh L (có đơn xin vắng mặt).

- Đặng Văn Q, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh L.(vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/02/2022, Lê Văn H đến quán nước biển hiệu Q A thuộc ấp B1, xã ĐH, huyện Đ, tỉnh L gặp Vũ Phúc L, Trương Minh T, Đỗ Văn Hoài H, Huỳnh Tấn S, Nguy n Văn H2 và Nguy n Văn L. Tại đây, L, T, H1, S, H2 và L đang đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền do một người nam thanh niên, không xác định nhân thân, lai lịch làm cái. Lúc này, H đề nghị để cho H làm cái lắc bầu cua cho L, T, H1, S, H2 và L đặt cược, tất cả đồng ý. H làm cái, lắc bầu cua cho L, T, H1, S, H2 và L đặt cược tổng cộng 5 ván, mỗi ván với số tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi H đang làm cái cho L, T, H1, S, H2 và L đặt cược, thì bị Công an bắt quả tang.

Tạm giữ trên chiếu bạc số tiền 400.000đồng, trong đó, số tiền trên chiếu bạc của H là 70.000đồng, của L là 100.000đồng, của L là 40.000đồng, của S là 40.000đồng, của T là 70.000đồng, của H1 là 40.000đồng, của H2 là 40.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-V SĐH ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, iểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Lê Văn H gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 06 đến 09 tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Bị cáo Lê Văn H phạm tội mới trong thời gian thử thách nên đề nghị buộc chấp hành hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo của bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 07/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa với hình phạt của bản án này và đề nghị khấu trừ cho bị cáo H thời gian đã bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 05/9/2020 đến ngày 15/01/2021.

Đối với Vũ Phúc L, Trương Minh T, Đỗ Văn Hoài H1, Huỳnh Tấn S, Nguy n Văn H2 và Nguy n Văn L, có hành vi cùng với Lê Văn H đánh bạc. Nhưng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000đồng và không vi phạm các tình tiết khác làm căn cứ để định tội nên hành vi của những người này không cấu thành tội đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định pháp luật.

Đối với Đặng Văn Q, là chủ quán nước giải khát biển hiệu Q A. Ông Q không cung cấp dụng cụ đánh bạc, không biết và cũng không thu lợi từ việc H và L, T, H, S, H và L đánh bạc trái phép, nên hành vi ông Q không cấu thành tội phạm có liên quan.

Đối với người nam thanh niên, không xác định họ, tên, có hành vi đánh bạc cùng với L, T, H1, S, H2 và L, do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 01 bộ bầu cua, 01 đĩa sành, 01 nắp nhựa và 01 tấm nhựa, là dụng cụ mà bị can H dùng đánh bạc cùng với L, T, H1, S, H2 và L. Bộ dụng cụ dùng để đánh bạc này có sẵn tại quán nước biển hiệu Q A, L, T, H1, S, H2 và L tự ý lấy sử dụng đánh bạc. Chủ quán nước giải khát biển hiệu Q A là ông Đặng Văn Q không cung cấp bộ dụng cụ này, không xác định được chủ sở hữu nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 400.000đồng là tiền tham gia đánh bạc của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của iểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đánh giá về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đức H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức H và iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Vũ Phúc L, Trương Minh T, Đỗ Văn Hoài H1, Huỳnh Tấn S, Nguy n Văn H2, Nguy n Văn L và Đặng Văn Q vắng mặt nhưng đã được cơ quan điều tra lấy lời khai để xác định sự thật vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng gì đến phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 292 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.

. Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:

. Hành vi khách quan của Lê Văn H đã thực hiện: hoảng 16 giờ ngày 19 tháng 02 năm 2022, tại quán nước biển hiệu Q A thuộc ấp B1, xã ĐH, huyện Đ, tỉnh L, Lê Văn H đã từng bị kết án về tội Gá bạc, chưa được xóa án tích, có hành vi đánh bạc trái phép với hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền cùng với Vũ Phúc L, Trương Minh T, Đỗ Văn Hoài H, Huỳnh Tấn S, Nguy n Văn H và Nguy n Văn L thì bị Công an bắt quả tang và tạm giữ trên chiếu bạc số tiền 400.000đồng.

. Hội đồng xét xử đánh giá: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn H trước tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đức Hòa lập vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 19/02/2022; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Văn H đủ yếu tố cấu thành tội“Đánh bạc” theo quy định tai khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự .

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Lê Văn H gây ra là nguy hiểm, hành vi này là tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. hi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có 01 tiền án về tội “Gá bạc”, đang chấp hành thử thách án treo và nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

.Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Lê Văn H không thuộc các tình tiết định khung khác qui định tại Điều 321 nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng khác theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

+ Về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Văn H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về việc buộc bị cáo Lê Văn H chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo do phạm tội mới trong thời gian thử thách: Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Lê Văn H phải chấp hành hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo của bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 07/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa với hình phạt của bản án này và khấu trừ cho bị cáo H thời gian đã bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 05/9/2020 đến ngày 15/01/2021.

. Đối với Vũ Phúc L, Trương Minh T, Đỗ Văn Hoài H1, Huỳnh Tấn S, Nguy n Văn H2 và Nguy n Văn L, có hành vi đánh bạc cùng với Lê Văn H nhưng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000đồng nên hành vi của những người này không cấu thành tội đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định pháp luật là có cơ sở.

Đối với Đặng Văn Q là chủ quán nước giải khát biển biển hiệu Q A. Ông Qkhông cung cấp dụng cụ đánh bạc, không biết và cũng không thu lợi từ việc Hòa, L, T, H, S, Hvà L đánh bạc trái phép, nên hành vi ông Q không cấu thành tội phạm có liên quan.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 01 bộ bầu cua, 01 đĩa sành, 01 nắp nhựa và 01 tấm nhựa, là dụng cụ mà bị cáo H cùng với L,T, H1, S, H2 và L dùng đánh bạc. Bộ dụng cụ dùng để đánh bạc này có sẵn tại quán nước biển hiệu Q A. Ông Q chủ quán nước giải khát biển biển hiệu Q A xác định không cung cấp bộ dụng cụ này, không xác định được chủ sở hữu nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 400.000đồng là tiền tham gia đánh bạc của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự . Xử phạt bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Lê Văn H chấp hành hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 07/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Tổng hợp hình phạt hai bản án, buộc bị cáo Lê Văn H chấp hành hình phạt chung hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/10/2022. hấu trừ cho bị cáo Lê Văn H thời gian đã bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 05/9/2020 đến ngày 15/01/2021.

3. Về tạm giam: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Lê Văn H 45 ngày (kể từ ngày 24/02/2023) để đảm bảo thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bầu cua, 01 đĩa sành, 01 nắp nhựa và 01 tấm nhựa.

5. Các biện pháp tư pháp khác: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền tham gia đánh bạc của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 400.000đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

(Tang vật trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức H đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-01-2023; Tiền đang tạm giữ theo biên lai thu số 0002425 ngày 16-01-2023);

6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn H nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điểu 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết.

“Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lý Văn Hùng – Nguyễn Thị Rạt

Nguyễn Khắc Linh Duy

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ