vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đàm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

̀ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06-12-2022. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đàm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày 18-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Tài

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hiền và bà Đoàn Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Lê Mianh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/HSST ngày 20-3-2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 04-4-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông, đối với bị cáo:

Đàm Văn Đ, sinh ngày 24-01-1988, tại tỉnh Hải D; nơi cư trú: Thôn 2, xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Đàm Văn X, sinh năm 1962 và con bà Phạm Thị H, sinh năm 1966; bị cáo có vợ Đinh Thị Tr, sinh năm 1991 và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự: Không; tiền án: có 01 tiền án, tại bản án số 51/2020/HSST, ngày 27-7-2020 Tòa án nhân dân huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước, tuyên phạt Đàm Văn Đ 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, đến ngày 16-8-2021 Đàm Văn Đ đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bản án trên nên chưa được xóa án tích; bị bắt tạm giữ từ ngày 06-12-2022 đến ngày 15-12-2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk R – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 05-12-2022, do cần ma túy là Heroine để sử dụng, Đàm Văn Đ mượn chiếc xe môtô nhãn hiệu Dream (không rõ biển kiểm soát) của một người bạn mới quen tên T (không xác định được nhân thân, lai lịch) mang theo số tiền 2.750.000 đồng, đi từ thị trấn Kiến Đ, huyện Đắk R vào khu vực làng Mông thuộc xã Đắk N, huyện Tuy Đ, tỉnh Đắk Nông để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, Đ gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) thì Đ hỏi người đàn ông này có biết ai bán ma túy là Heroin không chỉ cho Đ mua, người đàn ông này nói “mua bao nhiêu”, Đức trả lời 2.000.000 đồng. Sau đó người đàn ông này nói với Đ đứng đợi. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông trên chạy đến đưa cho Đ 04 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói có một lớp bao nilon màu vàng chứa chất ma túy là Heroine, Đ đưa cho người đàn ông trên số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó Đức cất giấu 04 gói ma túy trên vào ngăn ngoài của chiếc ví da màu nâu của Đ, rồi bỏ chiếc ví da trên vào túi quần dài bên phải và điều khiển xe môtô về thị trấn Kiến Đ trả xe cho T. Sau khi trả xe, Đ đi nhờ xe của người đi đường về nhà tại thôn 2, xã Nhân Đ, huyện Đắk R. Đến tối ngày 05-12-2022, Đ lấy một phần ma túy trong 01 gói ra sử dụng, phần ma túy còn lại Đ tiếp tục cất giấu vào chiếc ví da. Sáng ngày 06-12-2022, Đ mang theo 04 gói ma túy cất giấu trong chiếc ví da đi đến Trung tâm Y tế huyện Đắk R để uống thuốc Methadone thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đàm Văn Đ, tại thôn 2, xã Nhân Đ, huyện Đăk R, tỉnh Đăk Nông không phát hiện, thu giữ các đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 06-12-2022 của Công an huyện Đắk R’lấp xác định Đàm Văn Đức dương tính với ma túy là Heroine. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07-12-2022 của Trung tâm y tê huyện Đắk R’lấp xác định Đàm Văn Đức có sử dụng ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Morphin.

Tại bản kết luận giám định số 347/KL – KTHS ngày 09-12-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk N kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 04 (bốn) gói nilon màu vàng được niêm phong trong bì thư gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng mẫu là 1,1404 gam, là Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định có khối lượng mẫu là 1,0459 gam.

Tại Cáo trạng số: 16/CTr - VKS ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đàm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 33 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đàm Văn Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R đã ra quyết định xử lý đồ vật bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Đàm Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu xám đen; tịch thu tiêu hủy 1,0459 gam chất ma túy là Heroine (hoàn lại đối tượng sau giám định) và 01 ví da màu nâu là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đắk R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.Xác định vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 06-12-2022 tại Trung tâm y tế huyện Đắk R thuộc tổ dân phố 8, thị trấn Kiến Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk Nông, bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 1,1404 gam chất ma túy là Heroine trong ví da nhằm mục đích sử dụng, thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy, hành vi của bị cáo Đàm Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và điều khiển được hành vi của mình. Xét hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phải biết được viê ̣c mua bán và sử dụng trái phép chất ma tuý là xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ra những hệ lụy xấu ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe con người, là tiền đề cho những tệ nạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội. Bị cáo là con nghiện đang điều trị bằng thuốc cai nghiện Methadone tại Trung tâm y tế huyện Đắk R bị cáo phải nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo có 01 tiền án về về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ,tại bản án hình sự số 51/2020/HSST, ngày 27-7-2020 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đ, tỉnh Bình Phước, tuyên phạt Đàm Văn Đức 01 năm 06 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-8-2021 và chưa nộp tiền án phí hình sự, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo pha ̣m tô ̣i vớ i lỗi cố ý; có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo được mục đích của hình phạt.

. Về vật chứng vụ án: Xét 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu xám đen là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R trả lại cho cho Đàm Văn Đ là phù hợp.

Xét 1,0459 gam chất ma túy là Heroine (hoàn lại đối tượng giám định) và 01 ví da màu nâu của Đàm Văn Đ là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đàm Văn Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Dream (không nhớ biển kiểm soát) của người bạn mới quen tên T (không xác định được nhân, lai lịch) để đi mua ma túy, khi mượn Đức nói với T đi công việc cá nhân, không cho T biết sử dụng để đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy Đ đã mang về trả lại cho T nên không đề cập xử lý.

. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ và đúng pháp luật cần chấp nhận.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đàm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đàm Văn Đ 02 (hai) năm tù, thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù tinh tứ

̀ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06-12-2022.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu xám đen cho bị cáo Đàm Văn Đức

Tịch thu tiêu hủy 1,0459 gam chất ma túy là Heroine (hoàn lại đối tượng sau giám định) và 01 ví da màu nâu của Đàm Văn Đ (Có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk R).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

Cỡ chữ