vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Trần Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2023. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày 28-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy An

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Phúc;

Ông Trần Văn Tèo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Kiều Tranh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn L, sinh ngày 27/3/1996, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D (chết) và bà Trần Thị M (chết); vợ con không có; tiền án: Tại Bản án số 109/2021/HS-ST ngày 24/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tiền sự: không có. Nhân thân: Ngày 27/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/5/2018 và án phí. Ngày 03/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 28/6/2019. Ngày 14/9/2020, bị Công an xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 05/10/2020. Ngày 23/11/2021, bị Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 18/01/2023 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, tại đoạn đường nhựa thuộc khu phố X, thị trấn B, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Công an thị trấn Bến Cầu bắt quả tang Trần Văn L đang cất giấu 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là chất ma túy) trong túi quần đang mặc nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người và vật chứng để làm rõ.

Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/01/2023, Trần Văn L đi bộ từ nhà đang ở thuê thuộc ấp T, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đến khu vực đường nhựa vào quán 9 Bửu thuộc khu phố X, thị trấn B, huyện Bến Cầu gặp 01 (một) người đàn ông tên Luân (không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng chất ma túy, người này đồng ý và đưa cho L 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, bên trong có 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín, bên trong bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng, L bỏ chất ma túy vừa mua vào trong túi quần bên phải đang mặc, do trời mưa nên người đàn ông tên Luân chưa lấy tiền, L trả tiền sau. Sau đó, L đi được khoảng 50m đến đoạn đường nhựa thuộc khu phố X, thị trấn B, huyện Bến Cầu thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang.

Kết luận giám định số 50/KL-KTHS ngày 12/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,4135 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định 0,3516 gam.

Ngày 09/01/2023, kiểm tra nồng độ chất ma túy đối với Trần Văn L cho kết quả dương tính với chất ma túy (Methamphetamine).

Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong vụ số 50/KL-KTHS và 01 vỏ thuốc lá hiệu Hero.

Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSBC ngày 24 tháng 02 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Trần Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về mức hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Văn L từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ thuốc lá hiệu Hero.

Bị cáo Trần Văn L thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Trần Văn L xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội danh và điều luật áp dụng:

Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L thừa nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 09/01/2023 tại khu phố X, thị trấn B, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn L cất giấu 01 bịch nylon trong suốt hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số 50/KL-KTHS ngày 12/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,4135 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung là “...,Methamphetamine,…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số: 17/CT-VKSBC ngày 24 tháng 02 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo là có căn cứ.

Về tính chất vụ án: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bản thân của bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kiểm soát, quản lý các chất ma túy và gây mất an ninh trật tự địa phương. Việc tàng trữ và sử dụng ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội. Người nghiện ma túy sẽ dễ bị thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội nên cần nghiêm trị.

Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy đã chấp hành xong nhưng lại không lấy đó làm bài học sửa chữa bản thân mà còn tiếp tục vi phạm.

Áp dụng hình phạt: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo L là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Xét đề nghị của Kiểm sát viên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 gói niêm phong vụ số 50/KL-KTHS là chất ma túy còn lại sau giám định và 01 vỏ thuốc lá hiệu Hero không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên Luân bán ma túy cho Trần Văn L, do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn L, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong vụ số 50/KL-KTHS và 01 vỏ thuốc lá hiệu Hero.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn L được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ