- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A B1 - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A B1 phạm Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HS-ST Ngày 20-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quàng Văn Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy
Bà Mùa Thị Máy
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Mùa A Hay, Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Sơn La:
Thư ký Tòa án: Bà Đinh Thị Viên
Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Hạng A Sáy và ông Lò Minh Nhất.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A B1; Sinh ngày 01/01/1970 tại huyện B, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Giàng A Sáng (đã chết) và bà Mùa Thị Khua (đã chết); Bị cáo có vợ là Vàng Thị Dê, sinh năm 1970 và có 06 con, con lớn nhất 35 tuổi, con nhỏ nhất 23 tuổi, hiện nay đều cư trú tại bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 28/02/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc thời hạn 18 tháng; Bị cáo bị bắt, tạm giam giữ từ ngày 26/3/2023 đến nay, có mặt.
Người phiên dịch: Ông Thào A Chống; Sinh năm 1971; Địa chỉ: Bản V, thị trấn B, huyện B, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSBY ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Giàng A B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khoảng 15 giờ ngày 26/3/2023, Giàng A B1 đi bộ từ nhà ở bản S, xã H, B ra Quốc lộ 37 bắt xe đến trung tâm xã C, huyện M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân nghiện hút. Khi đi đến xã C, B1 xuống xe và đi bộ về hướng bản M1, xã C, trên đường đi gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, hỏi, mua được 01 gói nilon màu đen, bên trong có một lớp nilon màu trắng chứa Heroine với giá 1.000.000 đồng. Khi mua xong B1 cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi áo ngực bên phải đang mặc và quay về B, còn người đàn ông bán trái phép chất ma túy đi đâu không biết. Khi B1 về đến ngã ba xã C, huyện M thì xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết về đến đường rẽ vào bản S, xã H, huyện B, B1 xuống xe và đi bộ về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực giáp ranh giữa bản C1, xã H và bản S, xã H, gặp tổ công tác Công an xã H đang làm nhiệm vụ, B1 tự giác lấy gói ma túy đang cất giấu trên người ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu đen bên trong có một lớp nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Ngày 27/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với Viện kiểm nhân dân huyện B, Giám định viên Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Giàng A B1. Kết quả: Số chất bột màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon 2 lớp (lớp ngoài nilon màu đen, lớp trong nilon màu trắng) có khối lượng là 1,916 gam. Tách lấy 0,180 gam cho vào túi nilon màu trắng ký hiệu B=0,180 làm mẫu gửi giám định. Số chất bột màu trắng còn lại là 1,736 gam cho vào túi nilon màu trắng, ký hiệu CLB=1,736 gam nhập kho theo quy định và ra Quyết định trưng cầu giám định số 06, trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La giám định.
Ngày 28/3/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành bản Kết luận giám định số 689/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine (Heroin); khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,180 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,916 gam; loại Heroine (Heroin). Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Vật chứng còn lại của vụ án: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành được niêm phong theo quy định. Bên trong gồm: mẫu có ký hiệu CLB=1,736 gam, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu.
Đối với nguồn gốc ma túy bị cáo Giàng A B1 khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, do vậy không có căn cứ xử lý đối với người này.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa công khai, bị cáo Giàng A B1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Giàng A B1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Giàng A B1 mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành được niêm phong theo quy định. Bên trong gồm: mẫu có ký hiệu CLB=1,736 gam, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Ý kiến của bị cáo Giàng A B1 tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Giàng A B1 thừa nhận, do bản thân nghiện ma túy nên ngày 26/3/2023 Giàng A B1 đã có hành vi mua 1,916 gam Heroine với số tiền 1.000.000 đồng của một người không quen biết, tại bản M1, xã C, huyện M, mục đích mua về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy Giàng A B1 đi bộ về nhà, đến đoạn đường rẽ đi bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định, vật chứng của vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Giàng A B1 đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh quy định điểm c khoản 1 tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam....
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ hiểu biết để nhận thức được hành vi của mình làm là vi phạm pháp luật. Nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm, hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội của địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu: Ngày 19/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 28/02/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc thời hạn 18 tháng. Bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tòa cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì bị cáo sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và am hiểu pháp luật còn nhiều hạn chế.
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm và nhân thân của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời nhằm dăn đe, giáo dục chung, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng chống các hành vi tương tự xảy ra ở địa phương hiện nay.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Vì vậy Tòa cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành được niêm phong theo quy định. Bên trong gồm: mẫu có ký hiệu CLB=1,736 gam, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, là vật bị cáo dùng thực hiện tội phạm, vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị, cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, thì bị cáo Giàng A B1 là người dân tộc thiểu số sinh sống tại bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La là bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Gia đình bị cáo Giàng A B1 là hộ nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy Tòa cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tuyên bố bị cáo Giàng A B1 phạm Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Giàng A B1, 24 ( Hai mươi bốn)) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Giàng A B1.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành được niêm phong theo quy định. Bên trong gồm: mẫu có ký hiệu CLB=1,736 gam, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu.
(Chi tiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản của vụ án giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B ngày 08/6/2023).
3. Về Án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A B1.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh Sơn La; -VKSND tỉnh Sơn La; -VKSND-B; -Công an-B; -Bị cáo; -Trại giam-Sơn La; -Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; -Chi cục THADS-B; -THA.Hình sự; -Lưu hồ sơ - Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Quàng Văn Thủy |