vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đăng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Đăng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 18 tháng 9 năm 2023. Về vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đăng T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đăng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày 14-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Công Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Thanh Thịnh.

Bà Bùi Thị Bắc.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lý Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Đăng T, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1990, tại: Huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đăng T và bà Hoàng Thị S; vợ: Toàn Thị H (đã ly hôn), con: có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; về nhân thân: Ngày 27/12/2007 bị Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi gây rối trật tự công cộng tại Quyết định số 47/QĐ-XPHC ngày 27/12/2007 xử phạt 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Ngày 28/12/2007 bị cáo đã nộp tiền phạt. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 20/9/2009 có hành vi chiếm giữ trái phép tài sản bị Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính, tại Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 20/9/2009 xử phạt 1.000.000đ (một triệu đồng). Ngày 21/9/2009 bị cáo đã nộp tiền phạt. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 02/7/2012, tại Bản án số 08/2012/HS-ST bị Tòa án nhân dân huyện huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị can đã chấp hành xong án phí và trách nhiệm bồi thường dân sự đối với Bản án. Ngày 09/7/2015, tại Bản án số 15/2015/HSST bị Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Ngày 22/6/2020, T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Bị cáo đã chấp hành xong án phí, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 73 Bộ luật Hình sự đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Đăng N, sinh năm 1995; địa chỉ: Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 18/9/2023 tại khu vực cổng Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn thuộc khối phố Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an huyện Bắc Sơn phối hợp cùng Công an thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Hoàng Đăng T, sinh năm 1990, trú tại Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn có biểu hiện nghi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên phải của Hoàng Đăng T đang mặc 02 (hai) gói nhỏ chứa chất tinh thể màu hồng nghi là chất ma túy đá. Hoàng Đăng T khai nhận đây là chất ma túy đá mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HAPHAT, màu sơn xanh, biểm kiểm soát 19T1- 4802 theo quy định của pháp luật. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Đăng T phát hiện, thu giữ dưới gầm bàn trong phòng ngủ của Hoàng Đăng T 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong có 08 (tám) gói nhỏ chứa chất tinh thể màu hồng, nghi là ma túy đá. Hoàng Đăng T khai nhận đây là ma túy đá mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong vật chứng theo quy định đồng thời đưa người cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra Hoàng Đăng T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 16/9/2023, Hoàng Đăng T một mình bắt xe ô tô khách đi từ nhà ra thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi ra đến khu vực bến xe tỉnh Lạng Sơn, T gặp một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ), qua nói chuyện T biết người đàn ông này có bán ma túy đá nên T hỏi mua, người đàn ông đồng ý. T đưa cho người đàn ông này 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), người này cầm tiền và đi, T không rõ là đi đâu. Khoảng 30 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho T 01 (một) gói nilon, bên trong có chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy đá, T bắt xe ô tô khách quay về nhà tại thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia. Về đến nhà, T lấy một ít ma túy đá mua được ra tự sử dụng, số còn lại T chia làm 10 (mười) gói nhỏ rồi cất giấu dưới gầm bàn trong phòng ngủ của mình để sử dụng dần. Đến ngày 18/9/2023, Hoàng Đăng T điều khiển xe mô tô màu xanh, biển kiểm soát 19T1-4802 (xe của anh Hoàng Đăng N, sinh năm 1995, trú tại Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) từ nhà mang theo hai gói ma túy đá sang khu vực thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn để sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực cổng Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn thuộc khối phố Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Ngày 18/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 46 đối với vật chứng thu giữ của Hoàng Đăng T khi bắt quả tang, Quyết định trưng cầu giám định số 46a đối với vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà của Hoàng Đăng T.

Tại Kết luận giám định số 954/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang kết luận: “Chất tinh thể màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,089 gam (đã trừ bì)”

Tại Kết luận giám định số 962/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, đối với vật chứng thu giữ khi khám xét nhà của Hoàng Đăng T kết luận: “Chất tinh thể màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,282 gam (đã trừ bì).”

Ngày 21/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Hoàng Đăng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản Cáo trạng số 21/CT-VKSBS-HS, ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Đăng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng truy tố. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Đăng N trình bầy xe và giấy đăng ký xe là của anh Nam, anh Nam không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, anh Nam yêu cầu xin lại xe mô tô và giấy đăng ký xe.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đăng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50, của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Đăng T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì có chữ “Tang vật thu giữ của Hoàng Đăng T (cũ)”. Bên trong có: 02 (hai) gói nilon (cũ) đựng tổng cộng 1,034 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết); 01 (một) phong bì có chữ “Vật chứng thu giữ khám xét nơi ở của Hoàng Đăng T (cũ)”. Bên trong có: 01 (một) gói nilon (cũ) đựng tổng cộng 1,132 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 08 (tám) vỏ gói nilon (cũ).

Trả lại cho anh Hoàng Đăng N: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HAPHAT, màu sơn xanh, biển kiểm soát 19T1- 4802; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 005139 mang tên Lại Ngọc T, ngày đăng ký 29/5/2008.

Bị cáo, người liên quan không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử được giảm nhẹ về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 18/9/2023 tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Bắc Sơn thuộc khối phố Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện Bắc Sơn phát hiện, bắt quả tang Hoàng Đăng T, sinh năm 1990, trú tại Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ trong túi quần bên phải đang mặc 02 (hai) gói ma túy, qua giám định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,089 gam (đã trừ bì). Khám xét khẩn cấp nơi ở của T thu giữ 08 (tám) gói ma túy, qua giám định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,282 gam (đã trừ bì). Tổng khối lượng chất ma túy Methamphetamine mà Hoàng Đăng T tàng trữ là 2,371 gam, mục đích T mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Đăng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 21/CT-VKSBS-SH, ngày 17/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Đăng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đây là vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là người nghiện ma túy nên hiểu được tác hại của ma túy đối với con người, cộng đồng và xã hội, bị cáo cũng nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện ma túy nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã từng có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy mới chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương nhưng không chịu tu trí làm ăn, từ bỏ ma túy mà cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và đó cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe, làm gương cho những người khác có ý định thực hiện hành vi phạm tội tương tự.

Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu vì đã từng có có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên khi lượng hình cần quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bảo đảm tính giáo dục và có tính răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo là người nghiện ma túy nên mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội đồng thời răn đe, làm gương cho những người khác có ý định thực hiện hành vi phạm tội tương tự. Xét thấy qua xác minh bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Đăng T tại khu vực bến xe tỉnh Lạng Sơn, quá trình trao đổi mua bán do T không biết tên, tuổi, địa chỉ, lai lịch người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HAPHAT, màu sơn xanh, biển kiểm soát 19T1-4802, xe Hoàng Đăng T mượn của anh Hoàng Đăng N, anh N không biết việc Hoàng Đăng T sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm của Hoàng Đăng N trong vụ án này.

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) phong bì có chữ “Tang vật thu giữ của Hoàng Đăng T (cũ)”, có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 02 (hai) gói nilon (cũ) đựng tổng cộng 1,034 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết). Là ma túy của Hoàng Đăng T là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) phong bì có chữ “Vật chứng thu giữ khám xét nơi ở của Hoàng Đăng T (cũ)”, có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói nilon (cũ) đựng tổng cộng 1,132 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 08 (tám) vỏ gói nilon (cũ). Là ma túy của Hoàng Đăng T là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HAPHAT, màu sơn xanh, biển kiểm soát 19T1- 4802; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 005139 mang tên Lại Ngọc T, ngày đăng ký 29/5/2008. Xe mô tô và giấy đăng ký xe là của anh Hoàng Đăng N, anh N không biết việc Hoàng Đăng T sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên trả lại xe mô tô và giấy đăng ký xe cho anh Hoàng Đăng N.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50, của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đăng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Đăng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 18 tháng 9 năm 2023.

3. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì có chữ “Tang vật thu giữ của Hoàng Đăng T (cũ)”, bên trong có 02 (hai) gói nilon (cũ) đựng tổng cộng 1,034 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết); 01 (một) phong bì có chữ “Vật chứng thu giữ khám xét nơi ở của Hoàng Đăng T (cũ)”, bên trong có 01 (một) gói nilon (cũ) đựng tổng cộng 1,132 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 08 (tám) vỏ gói nilon (cũ).

Trả lại cho anh Hoàng Đăng N: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HAPHAT, màu sơn xanh, biển kiểm soát 19T1- 4802, số máy 52FMH002315, số khung 1UM7XY02315; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 005139 mang tên Lại Ngọc T, ngày đăng ký 29/5/2008.

(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thị hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bi cáo Hoàng Đăng T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ