vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bạch Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bạch Thanh L: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 02/3/2023). Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạch Thanh L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bạch Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày 26-7- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Đức Hoài

- Ông Hà Minh Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bạch Thanh L, sinh năm 1998 tại huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp Kinh X, xã Tây Y, huyện , tỉnh Kiên Giang; Không: Ngư phủ; trình độ văn hoá 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Thanh Nh và bà Cao Thị Nh; vợ tên Trần Thị Thanh N, sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện An Biên từ ngày 02/3/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 02/3/2023, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện An Biên, tiến hành kiểm tra Bạch Thanh L thuộc ấp X, xã Hưng Y, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì L sợ bị phát hiện nên dùng tay lấy 01 (Một) bịch ny lon bên trong có chất ma túy, kích thước khoảng 04cm x 02cm ma túy giấy trong túi quần Jean bên phải quăng xuống đương thì bị bắt quả tang, thu giữ tang vật theo quy định.

Theo lời trình bày của Bạch Thanh L: Khoảng 02 giờ, ngày 02/3/2023, L thuê xe hon đa ôm của người Nam (không rõ nhân thân, lai lịch) đến khu vực thuộc ấp Mương Q, xã Tây Y, huyện A gặp một người tên My (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (Một) bịch ma túy với số tiền 300.000 đồng. Mua xong L cất giấu vào túi quần Jean bên phải rồi thuê người chạy xe hon đa ôm trên chở về ấp X xã Hưng Y. Đến nơi L đi bộ một đoạn thì bị Công an kiểm tra, sợ bị phát hiện nên lấy bịch ma túy trong túi quần Jean bên phải ra quăng xuống đường thì bị bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) bịch nylon được hàn kín, có kích thước 04cm x 02cm, bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.

Tại Kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 08/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 04cm x 02cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2461 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-HS ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Bạch Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bạch Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Bạch Thanh L từ 01 (Một) đến 02 (Hai) năm tù;

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 04cm x 02cm còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2177 gam và bao gói đựng mẫu niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 218/2023.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do muốn có ma túy để sử dụng nên khoảng 02 giờ, ngày 02/3/2023, L thuê xe hon đa ôm của người Nam (không rõ nhân thân, lai lịch) đến khu vực thuộc ấp Mương Q, xã Tây Y, huyện A gặp một người tên My (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (Một) bịch ma túy với số tiền 300.000 đồng. Mua xong L cất giấu vào túi quần Jean bên phải rồi thuê người chạy xe hon đa ôm trên chở về ấp X, xã Hưng Y. Đến nơi L đi bộ một đoạn thì bị Công an kiểm tra, sợ bị phát hiện nên lấy bịch ma túy trong túi quần Jean bên phải ra quăng xuống đường thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 0,2461 gam. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Bạch Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự, ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm mà không suy nghĩ đến hậu quả, mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội, gây bất bình trong nhân dân

Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền tác hại ma túy, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp.

Đối với tên My là người bán ma túy cho Bạch Thanh L không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Biên tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở sẽ tiến hành xử lý sau.

Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 04cm x 02cm còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2177 gam và bao gói đựng mẫu niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 218/2023.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bạch Thanh L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bạch Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bạch Thanh L: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 02/3/2023).

2. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 04cm x 02cm còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2177 gam và bao gói đựng mẫu niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 218/2023.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ/VKSHAB ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bạch Thanh L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/7/2023).

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th́ người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ