vanban.org

Bản án 22/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 03/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Phạm Đình T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/6/2022). Xử phạt Trần Văn Q 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/6/2022… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-PT
Ngày 16-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Sơn

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Anh; Bà Thái Thị Hồng Vân

Thư ký phiên toà: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại điểm cầu chính tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 270/2022/TLPT-HS ngày 28/11/2022 đối vớ i các bị cáo Trần Văn Q, Phạm Đình T do có kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Quý, Phạm Đình Thọ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2022/HS-ST ngày 15/10/2022 của Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

- Bi ̣ cá o có kháng cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày 14/12/1994 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 10, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Trần Văn Vĩnh, sinh năm 1967; con bà: Nguyễn Thị Mai, sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1998; con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 22/6/2022, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Phạm Đình T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 06/7/1996 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 6, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Đình Trụ, sinh năm 1973; con bà: Nguyễn Thị Thường, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 47/HSST ngày 25/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đã Nẵng xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 12/6/2020, chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 22/6/2022, có mặt tại phiên toà.

- Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Hữu Q, không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 8 giờ ngày 22/6/2022, Trần Văn Q đang ở nhà thì nảy sinh ý định mua ma tuý về sử dụng nên Quý sử dụng điện thoại nhắn tin qua ứng dụng Messenger bằng tài khoản Facebook có tên “Quý Chòi” đến tài khoản Facebook có tên “Thọ chuột” là tài khoản của Phạm Đình Thọ. Quý nói: “Có mối mô không? Alo cậu cấy”. Thọ hiểu ý của Q muốn hỏi chỗ mua ma tuý nên T nói cho Quý biết Nguyễn Hữu Q mua được ma tuý. Sau đó, Q nói với T trưa đến chở Q đi mua ma tuý thì Thọ đồng ý. Đến khoảng 9 giờ 00 phút cùng ngày, Quý đi đến nhà Quang ở xóm 10, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì gặp Quang đang ngủ trong nhà; Q hỏi Qua: “Có biết chỗ mô lấy ma tuý không, lấy cho hai triệu để chơi”; Qu trả lời: “Có” rồi mượn điện thoại của Quý gọi điện cho một người đàn ông và nói: “Để cho em hai triệu tiền hồng”, người đó đồng ý và hẹn Quang đi đến khu vực chợ Chiều thuộc xóm 5, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để lấy ma tuý. Đến khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày, Quý nhắn tin và gọi điện nói T đến nhà Quang để chở Q và Q đi mua ma tuý thì Thọ đồng ý. T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, biển kiểm soát: 37C – 437.21 đến nhà của Quang rồi Quý và Quang lên xe ô tô, Quý ngồi ở ghế phụ phía trước xe còn Q ngồi ở ghế phía sau xe. Q nói với T: “Đi xuống xã D Yên để lấy ma tuý” và nói với Quý: “Đưa tau hai triệu để lấy ma tuý” thì Quý đồng ý và đưa cho Quang số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Khi Quang, Quý và Thọ đi đến khu vực chợ Chiều thuộc xóm 5, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì người đàn ông gọi điện thoại đến máy điện thoại mà Quý đã đưa cho Quang gọi trước đó và nói với Quang: “Ba người thì không giao ma tuý, chở hai người kia quay lại rồi một mình lại lấy ma tuý”. Nghe vậy, Q nói lại với Q và T rồi cả ba người đi đến khu vực đường Quốc lộ 1A cách khu vực chợ Chiều khoảng 1 km để Quý và T xuống xe chờ; sau đó một mình Quang điều khiển xe ô tô quay lại để lấy ma tuý. Khi đến nơi, Q ngồi chờ trên xe ô tô một lúc thì có một người đàn ông đến và vứt vào trong xe 01(Một) gói nilon màu hồng, Quang mở ra xem thì thấy bên trong có chứa 01 (Một) gói nilon màu trắng, bên trong cùng có chứa 10 (Mười) viên ma tuý (Methamphetamine). Quang đưa cho người đàn ông số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) rồi điều khiển xe ô tô đi đón Q và T.

Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 22/6/2022, khi Nguyễn Hữu Q đang điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 37C – 437.21 từ khu vực chợ Chiều thuộc xóm 5, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ra hướng Quốc Lộ 1A khoảng 500 mét thì bị tổ công tác Công an huyện Diễn Châu phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Lúc này, Q vứt gói ma tuý đang cầm ở tay phải xuống vị trí ở trên sàn, hàng ghế phía sau bên trong xe ô tô. Tổ công tác đã thu giữ 01(Một) gói nilon màu hồng, bên trong có chứa 01 (Một) gói nilon màu trắng, bên trong cùng có chứa 10 (Mười) viên ma tuý; thu giữ 01 (Một) điện thoại di động và 01 chiếc xe ô tô. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi dẫn giải Nguyễn Hữu Quang về trụ sở để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Hữu Qu và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, vào ngày 22/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Đình Thọ và Trần Văn Quý.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 22/6/2022 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu và tại bản Kết luận giám định số 939/KL-PC09 (Đ2- MT) ngày 27/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Hữu Q gửi tới giám định là ma tuý (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên mỗi viên nén đều có chữ WY thu giữ của Nguyễn Hữu Quang có tổng khối lượng là 0,95 gam (Không phẩy chín mươi lăm gam).

* Việc thu giữ, tạm giữ và xử lý vật chứng; đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án:

- Một phong bì thư bưu điện, bên trong có chứa 07 (Bảy) viên ma tuý (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 0,65 gam (Không phẩy sáu mươi lăm gam) - (Số ma túy còn lại sau khi đã lấy mẫu gửi đi giám định); 01 (Một) vỏ bao nilon màu hồng, 01 (Một) vỏ bao nilon màu trắng và 01 (Một) phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Hữu Q; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A72, màu đen, số IMEI1: 359021823476810, số IMEI2: 359763693476814, máy đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 353813087868377, máy đã qua sử dụng được chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu để bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật;

- Đối với 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, biển kiểm soát 37C - 437.21, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của chiếc xe ô tô là ông Phạm Đình T, sinh năm 1973, trú tại xóm 6, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (Là bố của Phạm Đình T). Việc Thọ mượn xe ô tô trên để phạm tội ông Trụ không biết, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Đình Trụ.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2022/HS-ST ngày 15/10/2022 của Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Phạm Đình T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/6/2022).

Xử phạt Trần Văn Q 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/6/2022).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tuyên án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18/10/2022, các bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T có đơn kháng cáo với nội dung: Các bị cáo đều nhận tội và công nhận việc xét xử của Toà án cấp sơ thẩm là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo chỉ đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T giữ nguyên nội kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phạm Đình Th 18 (mười tám) tháng tù; xử phạt Trần Văn Q 18 (mười tám) tháng tù đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/6/2022).

Các bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T khai và thừa nhận toàn bô ̣ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối vớ i bi ̣ cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 22/6/2022, tại khu vực đường liên xã thuộc xóm 5, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; Tổ công tác Công an huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Hữu Quang có hành vi tàng trữ trái phép 0,95 gam ma túy (Methamphetamine). Trong đó Phạm Đình T là người giới thiệu cho Trần Văn Q liên hệ với Nguyễn Hữu Q và dùng xe ô tô để chở các đối tượng đi mua ma túy. Trần Văn Quý là người trực tiếp đưa số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để Nguyễn Hữu Quang đi mua ma túy với mục đích để cùng nhau sử dụng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm suy thoái giống nòi, phẩm giá con người, phá hoại kinh tế và hạnh phúc gia đình, là tác nhân lây lan nạn dịch HIV và các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật xử lý nghiêm đối với các hành vi phạm tội về ma túy nhưng các bị cáo vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và xử phạt bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T mỗi bị cáo 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đã được cấp sơ thẩm xem xét.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất xuất trình được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét; mặt khác mức hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp và đã thể hiện sự hoan hồng của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Văn Q, Phạm Đình T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Phạm Đình T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/6/2022).

Xử phạt Trần Văn Q 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/6/2022).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Buộc bị cáo Trần Văn Q và Phạm Đình T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

̀

́ T XỬ PHÚC THẨM

TM. HỘI ĐÔNG XE

- VKSND tỉnh Nghệ An;

Thẩ m phá n - Chủ to ̣a phiên tòa

- TAND, VKSND TP Vinh;

- Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;

- Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;

- Cơ quan THAHS CA huyện Diễn Châu;

- Cơ quan điều tra CA huyện Diễn Châu;

- Chi Cục THADS huyện Diễn Châu;

- Bi ̣ cáo: Quý; Thọ;

Trần Ngọc Sơn

- UBND xã Diễn Lâm, H. Diễn Châu;

- Lưu Hồ sơ, Toà hình sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

XÉT XỬ Nguyễn Quang Trung – Nguyễn Thị Thu Từ

Nguyễn Thị Hải Minh Nơi nhận:

̀

́ T XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ