vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Hà Thị Huỳnh - Hoàng Văn Phích"
  • Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 9 -2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lường Thị Hoàn

2. Ông Hà Văn Tý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Nguyên Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2023/QĐST- HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị H. Sinh năm 1992

Địa chỉ: Bản Đ Q, xã Ph S, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái.

“Vắng mặt có lý do”

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn Ph. Sinh năm 1985

Địa chỉ: Bản Đ Q, xã Ph S, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái.

“Vắng mặt không lý do”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày: Chị và anh Hoàng Văn Ph kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 12/5/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Ph S, huyện V Ch, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến khoảng giữa năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ngoài ra anh Ph nghiện ma túy nên không quan tâm đến gia đình, vợ chồng đã ly thân từ đó, chị H đã bỏ về sống ở bên ngoại tại bản Ng, xã Ph S sinh sống còn anh Ph thường đi làm ăn xa, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xác định không còn tình cảm đối với anh Ph nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Ph có 02 con chung là Hoàng Văn Q, sinh ngày 02/02/2011 và Hoàng Thị Thảo L, sinh ngày 25/10/2014. Ly hôn chị H nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, chị không yêu cầu anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình chị H đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao trích lục kết hôn của Hà Thị H và Hoàng Văn Ph; bản sao giấy khai sinh của Hoàng Văn Q, Hoàng Thị Thảo L; bản sao căn cước công dân của Hà Thị H; xác nhận thông tin về cư trú của Hoàng Văn Ph.

Tại biên bản lấy lời khai của cháu Hoàng Văn Q và Hoàng Thị Thảo L, để Tòa án xem xét nguyện vọng của trẻ, cháu Q và cháu L đều trình bày là muốn ở cùng với mẹ.

Tại biên bản xác minh thể hiện, chị H và anh Ph có đăng ký kết hôn theo quy

định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng họ đã xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2018, chị Huỳnh đã bỏ về bên ngoại tại bản Ng, xã Ph S sinh sống, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa, anh Ph đi làm xa, sau đó nghiện chất ma túy và bị đưa đi tập trung cai nghiện ma túy bắt buộc, hiện đang là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện tại địa phương; chị H và anh Ph có 02 con chung là Hoàng Văn Q và Hoàng Thị Thảo L, hiện đang sống cùng với mẹ. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung khi ly hôn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét

xử, Thư ký việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật là không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56

của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hà Thị H, xử cho chị Hà Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn Ph.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 81, 82 và Điều 83

của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là Hoàng Văn Q, sinh ngày 02/02/2011 và Hoàng Thị Thảo L, sinh ngày 25/10/2014. Do chị H không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Hà Thị H, bị đơn anh Hoàng Văn Ph đều có hộ khẩu thường trú tại thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái, vụ án do Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

Tại phiên tòa, anh Hoàng Văn Ph vắng mặt lần thứ 2 mà không có lý do chính

đáng mặc dù đã được triệu tập hợp lệ; Nguyên đơn chị Hà Thị H có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Ph kết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày

12/5/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Ph S, huyện V Ch, tỉnh Yên Bái.Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, quá trình chung sống đến đầu năm 2018 xảy ra mâu thuẫn, chị H đã bỏ về bên ngoại tại bản Ng, xã Ph S sinh sống. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ đó không còn quan tâm đến nhau nữa, anh Phích đi làm xa, sau đó nghiện chất ma túy và bị đưa đi tập trung cai nghiện ma túy bắt buộc, hiện đang là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện tại địa phương, thể hiện hôn nhân của họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị H và anh Ph có 02 con chung là Hoàng Văn Q, sinh ngày 02/02/2011 và Hoàng Thị Thảo L, sinh ngày 25/10/2014. Xét thấy chị H nhận được nhận nuôi dưỡng cả 2 con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng anh Ph là người nghiện chất ma túy, thường xuyên vắng mặt tại địa phương; cháu Q và cháu L đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều

227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn Ph.

2. Về con chung: Xử giao cho chị Hà Thị H được trực tiếp trông nom, chăm

sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con là Hoàng Văn Q, sinh ngày 02/02/2011 và Hoàng Thị Thảo L, sinh ngày 25/10/2014.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi cón có quyền, nghĩa vụ thăm nom

con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí

dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số AA/2021/0000797 ngày 07/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ; chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ