- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc N. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc N và anh Trần Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 07-8-2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hai
Bà Quách Thị Hồng Ngọc
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 tháng 7 và ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 46/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1990
Địa chỉ: Số nhà 254, khóm A, phường Q, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1986
Địa chỉ: Số nhà 254, khóm A, phường Q, thành phố S, tỉnh Đ.
Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh H quen biết tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì tiến tới hôn nhân chung sống vợ chồng vào năm 2010, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2010 tại UBND phường Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn cả hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cả hai không phù hợp tính tình, anh H không lo cho vợ con mà chỉ biết ăn chơi, cờ bạc không lo làm ăn dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết được. Chị N đã cho anh H nhiều cơ hội sửa đổi để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H vẫn không thay đổi. Nay về hôn nhân chị N nhận thấy không còn tình cảm với anh H, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị N yêu cầu ly hôn anh H.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Trần Ngọc T, sinh ngày 19/01/2011 và Trần Đức H1, sinh ngày 10/11/2015, hiện 02 con đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị N không còn yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, bị đơn anh Trần Văn H: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc hoãn phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 28/4/2023, con của chị N và anh H là cháu Trần Ngọc T, sinh ngày 19/01/2011 và Trần Đức H1, sinh ngày 10/11/2015 trình bày: Nếu cha và mẹ ly hôn, không sống chung với nhau thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là chị N.
Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự (nguyên đơn) đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N. Cho chị N và anh H ly hôn.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị N được quyền nuôi 02 con chung tên Trần Ngọc T, sinh ngày 19/01/2011 và Trần Đức H1, sinh ngày 10/11/2015 sau ly hôn.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án, xét thấy trường hợp vắng mặt của chị N không thuộc trường hợp đình chỉ vụ án; Đối với bị đơn anh Trần Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh H chung sống vợ chồng từ năm 2010, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2010 tại UBND phường Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị N và anh H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh H không quan tâm chăm sóc vợ con. Từ năm 2022 chị N và anh H đã sống ly thân, không còn quan tâm lo lắng gì cho nhau. Tại phiên tòa, chị N có đơn xin vắng mặt nhưng vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn anh H. Về phía anh H quá trình giải quyết vụ án anh H mặc dù biết chị N yêu cầu ly hôn nhưng anh không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không có thiện chí đến Tòa tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm với chị N, cho thấy anh H đã từ bỏ quyền lợi của mình, anh H không mong muốn hàn gắn tình cảm với chị N.
Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh H đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã thực sự trầm trọng. Do đó, chị N yêu cầu ly hôn anh H là có căn cứ và phù hợp với quy pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị N xác định quá trình chung sống với anh H có 02 con chung tên Trần Ngọc T, sinh ngày 19/01/2011 và Trần Đức H1, sinh ngày 10/11/2015, hiện con đang sống chung với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng 02 con.
Xét thấy, từ khi được sinh ra cho đến nay 02 cháu T và H1 sống chung với chị N và anh H, từ khi vợ chồng sống ly thân 02 cháu T và H1 vẫn tiếp tục sống chung với chị N, được chị N và gia đình chị N thương yêu, quan tâm, chăm sóc, 02 cháu có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Mặt khác, 02 cháu T và H1 cũng còn nhỏ nên rất cần có sự chăm sóc của mẹ. Phía anh H thiếu sự quan tâm chăm sóc con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao 02 cháu T và H1 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu T và H1, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho 02 cháu trong sinh hoạt cũng như cuộc sống. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở là phù hợp với quy định của các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều: 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc N. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc N và anh Trần Văn H.
2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn tên Trần Ngọc T, sinh ngày 19/01/2011 và Trần Đức H1, sinh ngày 10/11/2015, hiện 02 con đang sống chung với chị N.
Anh Trần Văn H có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc 02 con, không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Ngọc N không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc N nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị N đã nộp ngày 07/3/2023 theo biên lai thu số 0015062 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án Tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân TP Sa Đéc; - Chi cục THADS TP Sa Đéc; - UBND phường Tân Qui Đông, TP Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp; - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phấn |