vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N được ly hôn với bà Đỗ Thị Thanh H3. Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 07 ngày do Ủy ban nhân dân xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam cấp ngày 02/03/2005 cho ông N và bà H3 không còn giá trị pháp luật kể từ ngày Bản án của tòa án có hiệu lực. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11-01-2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Quang C

2. Bà Nguyễn Thị Thanh T

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thanh H1 – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai H2 – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 956/2022/HNST ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 900/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 và quyết định tạm ngừng phiên tòa số 956/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N , sinh năm 1983

Thường trú: Thôn 1, xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam; Tạm trú: 105/14A Lê Sát, phường Tân Quý, quận Tân Phú, Tp.HCM (có mặt).

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thanh H3, sinh năm 1983; Thường trú: 119 Phạm Hồng Thái, Thị xã AyunPa, Tỉnh Gia Lai; Tạm trú: 105/14A Lê Sát, phường Tân Quý, quận Tân Phú, Tp.HCM (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và Bà H3 tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 07 ngày do UBND xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam cấp ngày 02/03/2005. Sau khi kết hôn cuộc sống chung bình thường hạnh phúc tới khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do lối sống quá khác biệt, bất đồng quan điểm nên thường xuyên tranh cãi. Mặt khác bà H3 có những thói quen, sở thích không lành mạnh như chơi cờ bạc đẫn đến tiêu tán hết tài sản trong gia đình. Ông đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng bà H3 vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn bất đồng nên hiện nay vợ chồng không còn tiếng nói chung, không quan tâm chăm sóc nhau nên cuộc sống rất căng thẳng và ngột ngạt. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên ông yêu cầu ly hôn với bà H.

- Về quan hệ con chung: Ông N khai có 02 con chung tên Nguyễn Hoài B, sinh ngày 24/9/2005 và Nguyễn Hoài Tường V, sinh ngày 20/7/2011. Khi ly hôn ông N yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà H3 cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông N khai không có.

Bị đơn – bà Đỗ Thị Thanh H3 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28; Điều 48; Điều 69; Điều 79; Điều 171; Điều 173 ; Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn năm 2005 thì quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H3 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Ông N chung sống với bà H3 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mặt khác ông N cho rằng bà H3 thường chơi cờ bạc dẫn đến tiêu tán tài sản nên cuộc sống vợ chồng rất căng thẳng và ngột ngạt không có khả năng hàn gắn. Từ những cơ sở trên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 57 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về tài sản chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: Không có; Về án phí: Tính theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 07 ngày do UBND xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam cấp ngày 02/03/2005 cho bà Đỗ Thị Thanh H3 và ông Nguyễn Văn N thì quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H3 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Bà H3 hiện cư ngụ tại quận Tân Phú, nay ông N yêu cầu ly hôn, Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục vắng mặt đương sự:

Bị đơn – bà Đỗ Thị Thanh H3 đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo khoản 1, khoản 2 Điều 177; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng bà Đỗ Thị Thanh H3 vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà H3.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét, việc ông Nguyễn Văn N yêu cầu ly hôn với bà Đỗ Thị Thanh H3:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông N và bà H3 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ngoài ra bà H3 hay chơi cờ bạc thua lỗ dẫn đến thất thoát các tài sản trong gia đình, ông N đã khuyên nhủ rất nhiều lần nhưng bà H3 không thay đổi. Hiện nay ông N xác nhận cuộc sống chung rất ngột ngạt, căng thẳng và đã hết tình cảm với bà H3. Mặt khác trong quá trình giải quyết bà H3 không đến tòa để trình bày ý kiến, qua đó thể hiện bà H3 không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử không có cở sở để xem xét yêu cầu của bà H3. Ngược lại, ông N xác nhận hiện nay đã hết tình cảm với bà H3. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng vợ chồng giữa ông N và bà H3 là có thật, khả năng hàn gắn không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông N.

- Về quan hệ con chung: Xét việc ông N yêu cầu được nuôi 2 con chung là con chung tên Nguyễn Hoài B, sinh ngày 24/9/2005 và Nguyễn Hoài Tường V, sinh ngày 20/7/2011:

Xét, việc giao con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải dựa vào quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Hiện nay 02 cháu Nguyễn Hoài B, sinh ngày 24/9/2005 và Nguyễn Hoài Tường V, sinh ngày 20/7/2011 đang ở chung với ông N bà H3, các cháu được đi học và phát triển bình thường. Bà H3 không đến Tòa để trình bày nguyện vọng của mình về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc ông N yêu cầu được nuôi con chung là có cở sở và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án ông N không yêu cầu bà H3 cấp dưỡng nuôi, nên Hội đồng xét xử xét thấy tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà H3 do ông N không yêu cầu.

- Về quan hệ tài sản chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này hai bên có tranh chấp thì sẽ được giải quyết trong một vụ kiện khác.

Về nợ chung: Ông N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này bà H3 chứng minh được có nợ chung thì sẽ được giải quyết trong một vụ kiện khác.

Về án phí:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 267; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N được ly hôn với bà Đỗ Thị Thanh H3.

Giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 07 ngày do Ủy ban nhân dân xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam cấp ngày 02/03/2005 cho ông N và bà H3 không còn giá trị pháp luật kể từ ngày Bản án của tòa án có hiệu lực.

- Về quan hệ con chung: Giao 2 con chung tên Nguyễn Hoài B, sinh ngày 24/9/2005 và Nguyễn Hoài Tường V, sinh ngày 20/7/2011 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà H3 do ông N không có yêu cầu.

+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyết.

+ Bà H3 được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này hai bên có tranh chấp thì sẽ được giải quyết trong một vụ kiện khác.

Về nợ chung: Ông N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này bà H3 chứng minh được có nợ chung thì sẽ được giải quyết trong một vụ kiện khác.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do ông N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0036205 ngày 06/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông N đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ