vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Mỹ Tr đối với ông Cao Xuân T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ Tr – Sinh năm 1992 được ly hôn ông Cao Xuân T – sinh năm 1990. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35, ngày 22/12/2016 của UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị không còn giá trị kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Mỹ Tr đối với ông Cao Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN ND QUẬN LIÊN CHIỂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 6 năm 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

***

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cơ

2. Ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Chu Thị Phƣơng Thùy - Cán bộ Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu – thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Phƣớc Khánh Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 91/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số /2023/QĐST – HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ Tr, sinh năm 1992; Địa chỉ: 97 Đ, phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Cao Xuân T, sinh năm 1990; Địa chỉ: K856/H37/28 T, quận L, TP Đà Nẵng. Vắng mặt lần 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gởi đến Tòa án, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ Tr trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ Tr và ông Cao Xuân T kết hôn năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, hôn nhân tự nguyện. Qúa trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã ngày càng trầm trọng do bất đồng về quan điểm sống, ông T không có công việc ổn định, không có trách nhiệm với gia đình vợ con, thường xuyên gây sự, đánh đập, ngược đãi bà Tr, cuộc sống hôn nhân vô cùng bế tắc, không có tiếng nói chung, mặc dù đã cố gắng hòa giải nhưng không thành. Đến nay bà Tr nhận thấy không còn tình cảm với ông T. Do đó, bà Lê Thị Mỹ Tr đề nghị được ly hôn với ông Cao Xuân T.

- Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ Tr xác nhận bà và ông T có 01 con chung là cháu Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017.

Ly hôn bà Tr có nguyện vọng sẽ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông Cao Xuân T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ Tr xác nhận bà và ông Cao Xuân T không có tài sản chung và nợ chung.

* Bị đơn – ông Cao Xuân T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lên lấy lời khai, Thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Cao Xuân T vẫn vắng mặt không có lý do cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ Tr nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

* Qua xác minh tại địa phương thể hiện: Qúa trình chung sống bà Tr và ông T có xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ trong nội bộ gia đình, nguyên nhân do đâu địa phương không nắm rõ. Về con chung thì bà Tr và ông T có 01 con chung là cháu Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Còn bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia quá trình tố tụng là không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của bà Lê Thị Mỹ Tr đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 51, 56, 58, 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Tr. Đề nghị HĐXX xử cho bà Lê Thị Mỹ Tr ly hôn với ông Cao Xuân T; Về con chung giao cháu Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Cao Xuân T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn ông Cao Xuân T có cư trú tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Cao Xuân T vẫn vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Cao Xuân T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ Tr và ông Cao Xuân T kết hôn năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, hôn nhân tự nguyện. Qúa trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã ngày càng trầm trọng do bất đồng về quan điểm sống, ông T không có công việc ổn định, không có trách nhiệm với gia đình vợ con, thường xuyên gây sự, đánh đập, ngược đãi bà Tr, cuộc sống hôn nhân vô cùng bế tắc, không có tiếng nói chung, mặc dù đã cố gắng hòa giải nhưng không thành. Do đó, bà Lê Thị Mỹ Tr đề nghị được ly hôn với ông Cao Xuân T. Qua xác minh tại địa phương được biết mâu thuẫn của vợ chồng là có thật. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Cao Xuân T đều vắng mặt và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà Tr. Điều này thể hiện ông T hoàn toàn không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị Mỹ Tr đối với ông Cao Xuân T.

Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ Tr và ông Cao Xuân T có 01 con chung là Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017. Ly hôn bà Tr có nguyện vọng sẽ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông Cao Xuân T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của bà Tr và ông T cũng không có ý kiến gì. Do đó căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ Tr xác nhận bà và ông Cao Xuân T không có tài sản chung và nợ chung; Ông T cũng không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Lê Thị Mỹ Tr phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Mỹ Tr đối với ông Cao Xuân T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ Tr – Sinh năm 1992 được ly hôn ông Cao Xuân T – sinh năm 1990.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35, ngày 22/12/2016 của UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị không còn giá trị kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật)

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Cao Sơn L, sinh ngày 10/9/2017 cho bà Lê Thị Mỹ Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Cao Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007817 ngày 16/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Tr đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ