- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị Kim Thu ly hôn anh Nguyễn Đình Xoan"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Đình X.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày 15-02-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Thi
2. Bà Hoài Thị Hà Khuyên
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim T; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình X; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Phạm Thị Kim T trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Đình X trên cơ sở hai bên đều tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/6/2003. Quá trình chung sống tại thôn H, xã H, huyện An Dương, Hải Phòng vợ chồng sống hòa thuận, vui vẻ với nhau được thời gian đầu sau đó hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống vợ chồng xảy ra va chạm bất hòa. Chị đã tìm nhiều cách khắc phục 03 năm nay nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng và căng thẳng hơn. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không được. Do mâu thuẫn hai bên đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn kéo dài, hôn nhân không có hạnh phúc, không thể khắc phục đoàn tụ đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình X.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Đình X có 02 con chung là Nguyễn Đình Th, sinh ngày 10/3/2004, Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 17/8/2013. Đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Phạm Tuyết N cho chị nuôi dưỡng sau ly hôn. Cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Nguyễn Đình Th đã trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Đình X vắng mặt tại phiên tòa, tại biên bản lấy lời khai anh X trình bày:
Anh và chị Phạm Thị Kim T kết hôn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã Đồng Thái, huyện An Dương. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng trong làm ăn kinh tế, vợ chồng bất hòa không hiểu nhau sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, anh đã khắc phục nhưng không được. Việc chị T xin ly hôn anh không đồng ý, đề nghị Tòa án hòa giải cho anh và chị T đoàn tụ vì anh còn tình cảm vợ chồng với chị T.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Đình Th, sinh ngày 10/3/2004, Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 17/8/2013. Chị T có nguyện vọng được nuôi con chung anh đồng ý đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T nuôi dưỡng sau ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Anh và chị T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Phạm Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Đình X. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 17/8/2013 cho chị Phạm Thị Kim T nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung Nguyễn Đình Th đã trưởng thành không giải quyết. Về tài sản chung: Không giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị Kim T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Phạm Thị Kim T khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Đình X có nơi cư trú: Xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Phạm Thị Kim T, anh Nguyễn Đình X có quan điểm đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Kim T và anh Nguyễn Đình X.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị T và anh X về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên va chạm bất hòa, sống ly thân, không còn quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho hai bên ly hôn. Anh X đề nghị Tòa án hòa giải để hai bên đoàn tụ. Tòa án đã báo anh X đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa nhưng anh X đều vắng mặt.
Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị Kim T và anh Nguyễn Đình X đã kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Phạm Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Đình X.
Về con chung: Chị Phạm Thị Kim T và anh Nguyễn Đình X có 02 con chung Nguyễn Đình Th, sinh ngày 10/3/2004, Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 17/8/2013. Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, chị T, anh X có quan điểm thống nhất chị T nuôi con chung Nguyễn Phạm Tuyết N sau ly hôn và về cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, Tòa án thu thập, nguyện vọng con chung muốn ở với chị T. Xét quan điểm của chị T và anh X là tự nguyện, giao con chung Nguyễn Phạm Tuyết N cho chị T nuôi dưỡng sau ly hôn. Con chung Nguyễn Đình Th đã trưởng thành, không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị Phạm Thị Kim T và anh Nguyễn Đình X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Kim T, anh Nguyễn Đình X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết, sau này các bên có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Chị Phạm Thị Kim T phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo của các đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Đình X.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 17/8/2013 cho chị Phạm Thị Kim T nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung Nguyễn Đình Th, sinh ngày 10/3/2004 đã trưởng thành, không giải quyết.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Phạm Thị Kim T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn chị T đã nộp (biên lai thu tiền số 0004335 ngày 24/11/2022) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị Kim T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Kim T và anh Nguyễn Đình X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện An Dương;
- Chi cục Thi hành án dân sự An Dương;
- UBND xã Đ (ĐKKH số 19/2003);
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Thu Hương
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Văn Thi
Đỗ Văn Thư
Nguyễn Thị Thu Hương Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện An Dương;
- Chi cục Thi hành án dân sự An Dương;
- UBND xã Đại Bản ( ĐKKH số 78/2008, ngày 10/6/2008);
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Thu Hương
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hương Nguyễn Thị Lợi
Đỗ Văn Thư
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự An Dương; - UBND xã An Đồng (Nơi ĐKKH); - Đương sự; - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |