vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng L, cho chị Lê Thị Mộng L được ly hôn với anh Trần Vũ Kh.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Hòa H,sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn L, sinh ngày 23/10/2011 cho chị Lê Thị Mộng L tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi cũng là phù hợp theo nguyện vọng của cháu H và cháu Lực muốn sống chung với chị L. Anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không y… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng L, cho chị Lê Thị Mộng L được ly hôn với anh Trần Vũ Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17-4-2023
“Về việc ly hôn, nuôi con”
con con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

2. Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 17 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023,về“Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mộng L, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp Ông X, xã Tập Ng, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Tạm trú: ấp Từ Ô, xã Hùng H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Anh Trần Vũ Kh, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp Ông X, xã Tập Ng, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/12/2022 và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt gửi đến Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần nguyên đơn chị Lê Thị Mộng L trình bày:

Vào năm 2007 chị có xác lập quan hệ hôn nhân với anh Trần Vũ Kh và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tập Ngãi, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh vào năm 2007. Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung tên Trần Hòa H, sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn L, sinh ngày 23/10/2011, hiện hai con chung đang sống chung với chị L.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị L khai lúc đầu sau khi cưới nhau vợ chồng chị sống chung rất hạnh phúc nhưng được một thời gian anh Kh không lo làm ăn, chỉ biết ăn nhậu với bạn bè và về nhà còn kiếm chuyện cự cải thường xuyên, chị có khuyên và tha thứ cho anh Kh nhiều lần nhưng tánh nào tật ấy anh Kh không sửa đổi mà còn xua đuổi chị về nhà cha mẹ ruột sống. Hiện nay hai bên không còn quan tâm lẫn nhau nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Ngày 12/7/2021 chị có làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh Kh nhưng tại Bản án sơ thẩm số: 09/2021/HNGĐ-ST ngày 16/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần đã bác đơn yêu cầu khởi kiện của chị. Nay chị tiếp tục khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Vũ Kh.

Về con chung: Chị L khai có 02 con chung tên Trần Hòa H, sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn L sinh ngày 23/10/2011, nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi, chị L không yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có nên chị không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chị L đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ sau đây: 01 (một) căn cước công dân mang tên Lê Thị Mộng L; 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Vũ Kh ( bản phơ tô); 01 (một) sổ hộ khẩu gia đình do anh Trần Vũ Kh làm chủ hộ, hộ khẩu mang số 60031142; quyển số: 3411 ngày 19/12/2009 của Công an huyện Tiểu Cần cấp (bản phô tô); 01 (một) giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số: 2136 ngày 09/06/2021của Ủy ban nhân dân xã Tập Ngãi cấp; 02 (hai) giấy khai sinh của con mang tên Trần Hòa H và Trần Tấn L (bản phô tô).

Tại bản tự khai đề ngày 14/12/2022 bị đơn anh Trần Vũ Kh trình bày: Anh Kh thống nhất theo lời trình bày của chị L về thời gian đăng ký kết hôn, về nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, về tài sản chung và nợ chung là đúng.

Giữa anh và chị L có thời gian tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã Tập Ngãi. Trong quá trình sống chung anh chị có được hai con chun tên Trần Hòa H, sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn L sinh ngày 23/10/2011 hiện đang sống chung với chị L. Nay anh vẫn còn thương yêu chị L nên anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L. Về con chung tên Trần Hòa H, sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn, sinh ngày 23/10/2011 anh đồng ý giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có nên anh không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.

Con chung Trần Hòa H, sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn L sinh ngày 23/10/2011 có ý kiến cùng trình bày tại hồ sơ vụ án: Cha chúng cháu tên Trần Vũ Kh, mẹ chúng cháu tên Lê Thị Mộng L nay cha mẹ chúng cháu ly hôn chúng cháu có nguyện vọng theo mẹ chúng cháu và sống chung với mẹ chúng cháu là bà Lê Thị Mộng L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét thấy đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Mộng L xin ly hôn với anh Trần Vũ Kh nên đây là vụ kiện “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con ” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn anh Trần Vũ Kh có nơi cư trú rõ ràng trên địa bàn huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Mộng L, bị đơn anh Trần Vũ Kh đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Mộng L và anh Trần Vũ Kh xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tập Ngãi theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa chị Lê Thị Mộng L và anh Trần Vũ Kh là hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến anh chị sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Xét tại Bản án sơ thẩm số: 09/2021/HNGĐ- ST ngày 16/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần đã bác đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L với anh Kh đến nay thời gian đã hơn một năm và tại hồ sơ vụ án chị L xác định giữa chị và anh Kh không còn tình cảm thương yêu, quý trọng quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu có duy trì thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận cho chị Lê Thị Mộng L được ly hôn với anh Trần Vũ Kh.

. Đối với con chung: Do chị L khai có hai con chung tên Trần Hòa H, sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn L sinh ngày 23/10/2011 hiện đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung Trần Hòa H và Trần Tấn L đến đủ 18 tuổi. Bởi vì từ lúc ly thân đến nay cháu H, cháu L luôn chung sống với chị L và chị L không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy nên giao cháu H, cháu L cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng cũng là phù hợp với nguyện vọng của cháu H, cháu L muốn sống chung với chị L. Hội đồng xét xử có giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng chị L không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Mộng L và anh Trần Vũ Kh thống nhất khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Mộng L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng L, cho chị Lê Thị Mộng L được ly hôn với anh Trần Vũ Kh.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Hòa H,sinh ngày 29/10/2007 và Trần Tấn L, sinh ngày 23/10/2011 cho chị Lê Thị Mộng L tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi cũng là phù hợp theo nguyện vọng của cháu H và cháu Lực muốn sống chung với chị L. Anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Mộng L và anh Trần Vũ Kh thống nhất khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Mộng L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00014898 ngày 08-02-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, như vậy chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú của các đương sự để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ