vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng H và Phạm H1"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!THƯỜNG!TÍN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!-!Tự!do!-!H!phúc!
THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/6/2023
V/v!tranh!chấp:!Ly!hôn!!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THƯỜNG!TÍN,!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:

Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà:!Bà Trần Thị Thu Hiền!

Các!Hội!thẩm!nhân!dân:!!!!!!!!!!!!!!Bà Nguyễn Thị Hà

Ông Lương Văn Hùng!

Thư!ký!phiên!toà: Bà Vũ Hà Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!huyện!Thường!Tín!tham!gia!phiên!tòa:!Ông Tô Quốc Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 102/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/5/2023 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

-!Nguyên đơn: Chị!Nguyễn!Thị!Hồng!H- sinh năm 1999 (có!mặt)!

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đội 3, thôn Thượng Cung, xã T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

-!Bị đơn: Anh!Phạm!H1!- sinh năm 1994 (có!mặt)!

Nơi đăng ký thường trú và trú tại: đội 3, thôn Thượng Cung, xã T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Trong!đơn!khởi!kiện!xin!ly!hôn!ngày!30/3/2023!và!các!văn!bản!tiếp!theo,!nguyên! đơn!là!chị!Nguyễn!Thị!Hồng!H!trình!bày:!

Chị và anh Phạm H1 được tự do, tự nguyện tìm hiểu và về chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 22/7/2019 tại UBND xã T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ Anh H tại đội 3, thôn Thượng Cung, xã T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không nhường nhịn nhau, mặt khác Anh H còn có hành vi sử dụng bạo lực đối với chị thời điểm chị sinh con được khoảng 01 tháng. Ngoài ra Anh H chơi bời nợ nần, vay nợ xã hội bên ngoài nên gia đình bố mẹ đẻ Anh H phải trả nợ. Khoảng 03 tháng nay vợ chồng sống ly thân. Chị nhận thấy vợ chồng vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng quay về đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị và Anh H có một con chung là cháu Phạm Đức M sinh ngày 04/5/2020. Ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, chị làm đồ mỹ nghệ thủ công tại gia đình, có thu nhập trung bình là 10.000.000 đồng/01 tháng. Về chỗ ở hiện chị và con đang sống tại nhà bố mẹ đẻ chị ở đội 3, xã T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng chị không tranh chấp gì về tài sản chung, nợ chung và chị H không yêu cầu Tòa án xem xét.

Bị!đơn!là!anh!Phạm!H1!trình!bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Hồng H về chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 2019 tại UBND xã T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Vợ chồng hay cãi nhau do không ai chịu nhường nhịn, thực tế từ khi kết hôn anh có đánh chị H hai lần do chị H thách thức nên anh nóng giận không làm chủ được bản thân. Sau khi chị H ra khỏi nhà chồng thì anh có liên lạc điện thoại để hòa giải nhưng chị H không đồng ý quay về đoàn tụ. Anh H còn tình cảm với chị H và đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng quay về đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị H có một con chung là cháu Phạm Đức M sinh ngày 04/5/2020. Trường hợp chị H giữ nguyên quan điểm ly hôn thì anh xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng anh không tranh chấp gì về tài sản chung, nợ chung và Anh H không yêu cầu Tòa án xem xét.

Tại!phiên!toà:!!! !

+Chị H: giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn, đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Đức M, không yêu cầu Anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không tranh chấp và không yêu cầu xem xét.

+Anh Huy: Không đồng ý ly hôn với chị H. Trường hợp giải quyết ly hôn thì anh xin đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không tranh chấp và không yêu cầu xem xét.

+Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín có quan điểm:

-Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Các đương sự chấp hành đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

-Về nội dung: chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn anh Phạm H1. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Đức M sinh ngày 04/5/2020 cho chị Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét. Anh H có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: các bên đương sự không yêu cầu nên không xét.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và của Đại diện Viện Kiểm sát; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan điểm của bị đơn, xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28- Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Phạm H1 kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/7/2019 tại UBND xã T, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Qua xác M đại diện gia đình hai bên và các đương sự đều xác nhận vợ chồng chị H và Anh H có mâu thuẫn và đã sống ly thân nhiều tháng nay. Chị H và Anh H thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn từ sau khi kết hôn thời gian ngắn do vợ chồng không chịu nhường nhịn nhau nên xảy ra xô xát đánh nhau. Quan điểm của Anh H không đồng ý ly hôn,Tòa án đã nhiều lần hòa giải tuy nhiên chị H không đồng ý quay về đoàn tụ, cương quyết yêu cầu ly hôn đối với Anh H. Thực tế Anh H cũng thừa nhận nhiều lần hòa giải với chị H nhưng chị H không chấp nhận. Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào các Điều 51, 56 - Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn anh Phạm H1.

[3] Về con chung: Chị H và Anh H có một con chung là cháu Phạm Đức M sinh ngày 04/5/2020. Xét nguyện vọng yêu cầu xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung của các đương sự đều chính đáng. Tuy nhiên cháu M còn nhỏ (03 tuổi) nên cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó để đảm để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất đối với con, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Phạm Đức M cho chị Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.

[5]Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 - Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Áp dụng:!

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 26- Luật thi hành án dân sự.

- Điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng H. Chị Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn anh Phạm H1.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Đức M sinh ngày 04/5/2020 cho chị Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai số AA/2020/0023318 ngày 10/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Phạm H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ