vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thụy Bảo H. Cho chị Trần Thụy Bảo H được ly hôn anh Đinh Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn H - S"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 3 - 2023.
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Bích Ngọc.

2. Bà Nguyễn Thị Xuân.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 523/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thụy Bảo H – sinh năm: 1985.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp 2, xã TL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện tại: Số nhà 110P, tổ 6, khu 3, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Đinh Văn S – sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Số nhà 110P, tổ 6, khu 3, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

(chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh S vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thụy Bảo H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn S tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019 và được Ủy ban nhân dân thị trấn TP cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/10/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống chung tại địa chỉ: Số nhà 110P, tổ 6, khu 3, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh S thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến gia đình. Ngoài ra, anh S hay ghen tuông vô cớ, không tin tưởng vợ. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh S vẫn không thay đổi. Do đó trong cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Từ tháng 12/2022 đến nay, chị và anh S sống ly thân nhau. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Đinh Văn S.

Về con chung: Chị và anh S không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với anh Đinh Văn S: Mặc dù khi thụ lý và tiến hành các hoạt động tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập anh S đến Tòa án làm việc nhưng anh S không đến Tòa án để thể hiện nguyện vọng của mình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thụy Bảo H đã giao nộp những tài liệu, chứng cứ sau: Căn cước nhân dân của chị H (bản sao); Sổ hộ khẩu của chị H (bản sao); Sổ hộ khẩu của anh S (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Bản tự khai ngày 02/11/2022 của chị H (bản chính). Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Biên bản xác minh tại địa phương. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã được Tòa án ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị H và anh S đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Trần Thụy Bảo H được ly hôn với anh Đinh Văn S.

+ Về con chung: Chị H và anh S không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh S nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

+ Về án phí: Đề nghị buộc chị Trần Thụy Bảo H phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thụy Bảo H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn anh Đinh Văn S. Anh Đinh Văn S đang cư trú tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

. Chị Trần Thụy Bảo H và anh Đinh Văn S là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị H và anh S kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn TP cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/10/2019. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh S nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/10/2019. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị H yêu cầu ly hôn do anh S không chăm lo cho gia đình, thường xuyên say xỉn, ghen tuông vô cớ nên trong cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập anh S đến Tòa án để hòa giải nhưng anh S không đến để làm việc. Điều này thể hiện ý chí của anh S không muốn hàn gắn, đoàn tụ. Đồng thời qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng anh chị không hạnh phúc.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh S trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thụy Bảo H là cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn S.

. Về con chung: Chị H kê khai chị và anh S không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh S nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Trần Thụy Bảo H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thụy Bảo H.

Cho chị Trần Thụy Bảo H được ly hôn anh Đinh Văn S.

2. Về con chung: Chị H kê khai chị và anh S không có con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí: Chị Trần Thụy Bảo H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0002931 ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.

5. Quyền kháng cáo: Chị H và anh S có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ