vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Nguyễn Thanh X.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Thanh X. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Đ được trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Song Ái M, sinh ngày 12/10/2007 và Nguyễn Song Ái L, sinh ngày 05/6/2012. Ông Nguyễn Thanh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Đ "Ly hôn" ông Nguyễn Thanh X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Nguyễn Thanh X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06-7-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA

TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Hồng.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Ngọc Bột;

2/ Ông Nguyễn Thành Hiệp;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An; Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2023/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1984 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh L.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm: 1981 (Vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày như sau:

Bà Đ và ông X cưới nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh L vào ngày 06/4/2005. Thời gian sống chung cùng gia đình chồng được 5 năm, sau đó thì ra ở riêng cho đến nay. Thời gian sống chung hạnh phúc được 15 năm thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông X thường uống rượu, đánh bài gây nợ nần. Vì thương con bà Đ đã cố gắng chịu đựng, khuyên răn chồng có gắng sửa sai không cờ bạc nữa, lo làm ăn để nuôi dạy các con. Nhưng ông X vẫn không sửa đổi. Bà Đ nhận thấy không còn tình cảm với ông X, do đó bà Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông X.

Về con chung: có 04 con chung tên Nguyễn Song Cẩm T, sinh ngày 31/12/2001; Nguyễn Song Cẩm X, sinh ngày 11/12/2005 (đã trưởng); Nguyễn Song Ái M, sinh ngày 12/10/2007 và Nguyễn Song Ái L, sinh ngày 05/6/2012. Sau khi ly hôn đối với 02 con đã trưởng thành, bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn đối với Ái M và Ái L bà Đ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: không có

Về nghĩa vụ trả nợ: không có.

Bị đơn, ông Nguyễn Thanh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự đến hòa giải và triệu tập đến phiên tòa xét xử nhưng ông X vẫn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh X là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: ông Nguyễn Thanh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông X theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Thanh X xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh L cấp giấy chứng nhận kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông X vì cho rằng cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông X thường uống rượu, đánh bài gây nợ nần, bà Đào đã nhiều lần khuyên răn nhưng ông X vẫn không thay đổi, bà Đ không còn tình cảm với ông X. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa đã tiến hành các thủ tục về cấp tống đạt, hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự các thông báo về phiên hòa giải, xét xử nhưng ông X vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông X không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa hai bên.

Do đó Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân giữa bà Đ và ông X lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Đ yêu cầu được ly hôn là có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: có 04 con chung tên Nguyễn Song Cẩm T, sinh ngày 31/12/2001; Nguyễn Song Cẩm X, sinh ngày 11/12/2005 (đã trưởng); Nguyễn Song Ái M, sinh ngày 12/10/2007 và Nguyễn Song Ái L, sinh ngày 05/6/2012. Đối với 02 con đã trưởng thành, bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết; Còn đối với Ái M và Ái L hiện đang sống cùng bà Đ nên bà Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng.

Xét từ khi vợ chồng ly thân thì cháu Ái M và Ái L sống cùng với bà Đ và 02 cháu cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ sau khi khi cha mẹ ly hôn. Để đảm bảo ổn định tâm lý cho cháu cần duy trì việc nuôi dưỡng này. Do đó Hội đồng xét xử quyết định giao 02 cháu Ái M và Ái L cho bà Đ tiếp tục nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: ông Nguyễn Thanh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Đ không có yêu cầu.

Về chia tài sản và nghĩa vụ trả nợ: Bà Đ xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung thì không có, ông X vắng mặt nên không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; Điều 35; 39; 147; 227; 228; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51; 56; 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Nguyễn Thanh X.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Thanh X.

Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Đ được trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Song Ái M, sinh ngày 12/10/2007 và Nguyễn Song Ái L, sinh ngày 05/6/2012. Ông Nguyễn Thanh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010617, ngày 23/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ