vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Hoàng A được ly hôn với Ông Ngô Văn N.

2/ Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Anh K, sinh ngày 04/11/2009 và cháu Ngô Tấn T sinh ngày 08/6/2014 cho Bà Lý Thị Hoàng A tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Ngô Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho Ông Ngô Văn N mà không ai đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Hoàng A - Ngô Văn N"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Hoàng A được ly hôn với Ông Ngô Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 16/3/2023.
“V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Triều Vũ Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Văn Phượng.

2. Ông Lê Hồng Điệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 301/2022/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lý Thị Hoàng A, sinh năm 1988. (Có đơn đề nghị xét xử vắng

mặt)

Địa chỉ: 327Ấp Đại Nghĩa Thắng, xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn: Ông Ngô Văn N, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Cái Quanh, xã Tân Thạnh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2022 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Bà Lý Thị Hoàng A trình bày:

Năm 2009, bà A và Ông Ngô Văn N tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà A và ông N sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Trong thời gian chung sống ông bà có 02 người con chung là cháu Ngô Thị Anh K, sinh ngày 04/11/2009 và cháu Ngô Tấn T sinh ngày 08/6/2014. Quá trình chung sống bà, ông không tài sản chung và không có nợ chung.

Nay Bà Lý Thị Hoàng A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết:

- Về hôn nhân: Bà Lý Thị Hoàng A yêu cầu ly hôn với Ông Ngô Văn N.

- Về con chung: Bà Lý Thị Hoàng A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngô Thị Anh K, sinh ngày 04/11/2009 và cháu Ngô Tấn T sinh ngày 08/6/2014 và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Ông Ngô Văn N: Kể từ khi thụ lý đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N, nhưng ông không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tham dự theo các giấy triệu tập của Tòa. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Bà Lý Thị Hoàng A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn Ông Ngô Văn N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 235, 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà A và ông N.

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2009, bà A và ông N sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Xét thấy việc chung sống của ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là vợ chồng. Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt bà A vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Nhận thấy hai bên đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục duy trì đời sống vợ chồng với nhau. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận cho bà A được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà Lý Thị Hoàng A xác định trong thời chung sống ông bà có hai người con chung là cháu Ngô Thị Anh K, sinh ngày 04/11/2009 và cháu Ngô Tấn T sinh ngày 08/6/2014

Xét thấy: Kể từ khi ly thân đến nay cháu K và cháu T đều do bà A chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, việc thay đổi điều kiện, hoàn cảnh sống sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về mọi mặt của cháu K, cháu T, mặt khác tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu K, cháu T cũng yêu cầu được sống chung với mẹ.Vì vậy, nhằm đảm bảo cho sự phát triển và ổn định của cháu K và cháu T, HĐXX quyết định giao cháu K và cháu T cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, cũng phù hợp với ý kiến và nguyện vọng của hai cháu.

Về cấp dưỡng: Bà A không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Hoàng A xác định trong thời gian chung sống bà và Ông Ngô Văn N không có tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Lý Thị Hoàng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ông Ngô Văn N không phải chịu án phí.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, Điều 227; Điều 228, Điều 235; Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Hoàng A được ly hôn với Ông Ngô Văn N.

2/ Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Anh K, sinh ngày 04/11/2009 và cháu Ngô Tấn T sinh ngày 08/6/2014 cho Bà Lý Thị Hoàng A tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Ngô Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho Ông Ngô Văn N mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Hoàng A xác định trong thời gian chung sống bà và Ông Ngô Văn N không tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lý Thị Hoàng A có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0005991 ngày 19/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Ông Ngô Văn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

.

Cỡ chữ