- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Lan A ly hôn với Hoàng Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lan A , cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Hoàng Văn T .
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/6/2023 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hứa Thị Hương và bà Đỗ Thị Ái Thương
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Bẩy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, giao nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXX-ST ngày 24 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/3/2023; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30/3/2023; Thông báo mở lại phiên toà số 01/2023/TB-TA ngày 15/5/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan A , sinh năm 1998. Địa chỉ cư trú: khu 7, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T , sinh năm 1993. Địa chỉ cư trú: thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lan A trình bày: Chị và anh T kết hôn vào ngày 23/7/2018 trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được hơn 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không hợp nhau, từ đó cuộc sống chung của vợ chồng trở lên căng thẳng không ai quan tâm đến ai. Sau khi kết hôn với anh T, chị chỉ ở nhà anh T chỉ khoảng 2-3 tháng, sau đó vợ chồng chị về nhà bố mẹ đẻ ở thỉnh thoảng có công việc gì thì chị mới về 1-2 ngày rồi lại đi. Mặt khác, anh T chơi bời, lô đề, cờ bạc dẫn đến nợ lần, chị nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Anh T đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 1/2019, từ đó vợ chồng cắt đứt mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay chị A xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị xin được ly hôn anh T để giải phóng cho đôi bên khỏi giàng buộc.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Khánh A1, sinh ngày 30/01/2019 hiện đang do chị A nuôi dưỡng chăm sóc. Nay ly hôn, chị A đề nghị Toà án giao con cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lan A xác định vợ chồng không có tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Hoàng Văn T , quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần đến trụ sở Tòa án để làm việc, song anh T đều không đến. Do vậy, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của anh T được.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Hoàng Văn Kh, sinh năm 1969 là bố đẻ của anh T trình bày: anh T và chị A kết hôn năm 2018, sau khi kết hôn anh T và chị A chung sống tại gia đình ông được khoảng 2-3 tháng thì chị A về nhà bố mẹ đẻ ở thỉnh thoảng có công việc gì mới về nhà ông ở 1-2 ngày rồi lại đi. Ban đầu anh T có sang nhà bố mẹ đẻ chị A ở cùng chị A, một thời gian, sau đó anh T lại ra ngoài không ở cùng chị A nữa. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh T có xảy ra, gia đình ông đã nhiều lần động viên chị A và anh T về đoàn tụ cùng nhau để nuôi dạy con chung, nhưng hai bên không tìm được tiếng nói chung nên không quay về chung sống cùng nhau. Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, Tòa án có gửi Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho anh T, ông đều nhận thay có lần thì ông giao trực tiếp cho anh T, có lần thì ông gọi điện thông báo cho anh T biết. Song do anh T làm nghề lái xe thuê đường dài nên không có thời gian đến Toà án được, anh T có nói với ông tình cảm vợ chồng không còn nên chị A xin ly hôn anh cũng nhất trí.
Chị Nguyễn Thị Lan A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh T, đề nghị được nuôi con chung, không đề nghị Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Về việc giải quyết vụ án: Quan điểm VKS đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị A được ly hôn anh T; Về con chung: Giao con chung cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc; Về tài sản chung, nợ chung: không đặt ra việc giải quyết. Về án phí: chị A phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Lan A khởi kiện xin ly hôn đối với anh Hoàng Văn T có địa chỉ cư trú tại huyện Kim Thành nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Chị A là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T là bị đơn được Tòa án triệu tập hai lần hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị A và anh T.
Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan A và anh Hoàng Văn T kết hôn với nhau trên tinh thần tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, được đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị A thì thấy: Chị A và anh T sau khi kết hôn chỉ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn. Mặc dù Toà án không lấy được lời khai của anh T, song căn cứ vào lời trình bày của chị A và bố đẻ anh T là ông Kh đã xác định được anh T và chị A sau khi kết hôn chỉ chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian rất ngắn đã mâu thuẫn và sống ly thân từ lâu không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án triệu tập anh T nhiều lần đến Toà án để hoà giải với mong muốn hai bên về đoàn tụ, song anh T đều không đến. Điều đó, thể hiện anh T đã bỏ mặc cho hôn nhân đổ vỡ chứ không có biện pháp hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, đã xác định được quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Lan A xin được ly hôn anh Hoàng Văn T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con chung của chị A thì thấy: con chung của chị A và anh T hiện nay do chị A trực tiếp nuôi dưỡng, hơn nữa cháu vẫn còn nhỏ và là con gái nên cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Chị A hiện nay có chỗ ở và có công việc, thu nhập ổn định, đảm bảo được cuộc sống ăn học cho con chung. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của chị A, giao cháu Hoàng Khánh A1, sinh ngày 30/01/2019 cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không đặt ra việc giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lan A không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra việc giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật dân sự, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lan A , cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Hoàng Văn T .
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Khánh A1, sinh ngày 30/01/2019 cho chị Nguyễn Thị Lan A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu An đủ 18 tuổi. Chị A tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra việc giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành theo biên lai số AA/2020/0004924 ngày 21 tháng 11 năm 2022.
Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Kim Thành; - Chi cục THA Dân sự huyện Kim Thành; - UBND xã Kim Liên, huyện Kim Thành( nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn); - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Bích |