vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q về việc xin ly hôn với anh Phạm Phước L

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Phạm Phước L. Về con chung: Giao người con chung tên Phạm Thị Ngọc Giàu, sinh ngày 09/5/2012 cho chị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng (Phù hợp theo nguyện vọng của con), chị Q không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q về việc xin ly hôn với anh Phạm Phước L
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
———————
Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/4/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách.

Các Hội Thẩm Nhân Dân: Ông Nhâm Đức Hùng và ông Hà Ứng Cương.

- Thư ký phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 614/2022/TLST- HNGĐ, ngày 28 tháng 12 năm 2022, về việc "Tranh chấp xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Thôn Ninh Ích, xã Ninh A, huyện Ninh H, tỉnh Khánh Hòa.

(Chị Q có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Phạm Phước L sinh năm: 1992;

Địa chỉ: ấp Minh Tân, xã Minh H, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

(Anh L vắng mặt phiên tòa lần thứ 2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/12/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q trình bày: Vào năm 2011 chị Quốc và anh Phạm Phước L kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Mong Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Thời gian đầu chị và anh Lễ sống với nhau rất hạnh phúc cùng nhau làm công nhân trên Bình Dương nhưng thời gian sau từ năm 2014 thường xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, từ đó dẫn đến tình cảm gia đình rạn nứt, không còn hạnh phúc, anh L bỏ chị trên Bình Dương tự làm nuôi con và vợ chồng đã ly thân từ thời gian đó đến nay.

Về con chung: Trong thời gian chung sống có với nhau người con chung tên Phạm Thị Ngọc G, sinh ngày 09/05/2012 hiện đang sống cùng chị.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Ngọc Q yêu cầu:

- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Phạm Phước L

- Về việc nuôi con chung: Xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thị Ngọc G, sinh ngày 09/05/2012 và không yêu cầu anh Lễ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Phước L đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh L đều không có mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến để Tòa án xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo trình tự thủ tục pháp luật tố tụng quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” với anh Phạm Phước L và hiện nay bị đơn có hộ khẩu thường trú tại ấp Minh Tân, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Phạm Phước L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ 2 theo quy định pháp luật nhưng anh Lễ vắng mặt không lý do nên hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Phạm Phước L xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/01/2011 và được UBND xã Mong Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị Q nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp, thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình, cách sống, cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung. Thực tế chị Q và anh Lễ đã sống ly thân trong thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Đối với anh L Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh L vẫn không có mặt theo thông báo của Tòa án đều này thể hiện anh L không muốn hòa giải, hàn gắn để được đoàn tụ với chị Ngọc Q.

HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Q và anh L đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Q vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh L để ổn định cuộc sống. Do vậy, yêu cầu của chị Q xin ly hôn với anh L là phù hợp theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Chị Q xác nhận trong thời gian chung sống giữa anh chị có 01 người con chung tên Phạm Thị Ngọc G, sinh ngày 09/05/2012 và tại phiên tòa chị Q yêu cầu được tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Giàu. HĐXX xét thấy từ khi vợ chồng chị Q sống ly thân với nhau đến nay con do chị Q chăm sóc nuôi dưỡng và tại biên bản ghi ý kiến, nguyện vọng của cháu Giàu thể hiện cháu có nguyện vọng sống vói chị Q nên HĐXX xét thấy cần tiếp tục giao cháu Giàu cho chị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, HĐXX đã giải thích cho chị Quốc về quyền yêu cầu anh Lễ cấp dưỡng nuôi cháu Giàu cho đến khi đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật, nhưng chị Quốc xác định không yêu cầu anh Lễ cấp dưỡng nuôi con và việc chị Quốc không yêu cầu anh Lễ phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX miễn xét.

[ 2.4] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Lễ đúng theo quy định pháp luật nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung giữa chị Quốc và anh L được. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Q xác nhận vợ chồng chị không có tạo lập tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[ 2.5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn xét.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Quốc là nguyên đơn do đó phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015; Điều 9 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q về việc xin ly hôn với anh Phạm Phước L

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Phạm Phước L.

2. Về con chung: Giao người con chung tên Phạm Thị Ngọc Giàu, sinh ngày 09/5/2012 cho chị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng (Phù hợp theo nguyện vọng của con), chị Q không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Anh Lễ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

5. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng chị Ngọc Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005212, ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Chị Quốc không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. N¬i nhËn:

Cỡ chữ