- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn tranh chấp con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/5/2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Đại
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Bá Đường
2. Ông Dương Quý Sáng
- Thư ký phiên toà: Lê Mạnh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trịnh – Kiểm sát viên – Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Ngày 12/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2023/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị V – Sinh năm 2001
Trú tại: Bản N, xã XH, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Cư Văn T – Sinh năm 2000
Trú tại: Bản N, xã XH, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai (Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Lý Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị V và anh Cư Văn T tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2019, đến ngày 11 tháng 01 năm 2021 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XH, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn chị V và anh T chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Do anh T thay đổi tính nết, thường xuyên chơi bời cờ bạc, phát tán tài sản gia đình, Anh T đã mang xe mô tô của vợ chồng đi cầm cố để đA bạc. Từ đó dẫn đến chị V và anh T thường xuyên cãi, chửi nhau. Sự việc đã được 02 bên gia đình khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi. Không thể tiếp tục chung sống với anh T được, cuối năm 2021 chị V quyết định sống ly thân anh T. Nay chị V khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh T.
Về con chung anh chị có 01 con chung: Cháu Cư Thị Nhật A – Sinh ngày 15 tháng 4 năm 2020, hiện nay cháu A đang sống cùng chị V. Sau khi ly hôn chị V có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu A và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ.
Về tài sản chung: chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, bị đơn không tự khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng bị đơn vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Đề nghị HĐXX áp dụng:Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lý Thị V.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Thị V ly hôn anh Cư Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Cư Thị Nhật A, SN: 15/4/2020 cho chị Lý Thị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh Cư Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000đ/01 tháng.
- Về tài sản chung: Chị V không đề nghị giải quyết.
- Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Chị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Cư Văn T và giải quyết nuôi con chung; Anh T cư trú tại huyện Bảo Yên, vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không hợp tác với Tòa án, không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa vì thế Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã XH, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai vào ngày 11 tháng 01 năm 2021. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T là hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, do mâu thuẫn vợ chồng, dẫn đến hai vợ chồng anh chị thường xuyên bất hòa. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập được chứng cứ xác định được chị V và anh T vợ chồng sống không hạnh phúc. Chị V và anh T đã ly thân từ cuối năm 2021, đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung:
Xét đề nghị chủa chị V. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập được chứng cứ được mức thu nhập của anh T và chị V mỗi người đều có thu nhập từ 7.000.000 đồng/01tháng. Cháu A hiện nay đang sống cùng chị V, anh chị đều có đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên hiện nay anh T thường xuyên đi làm thuê vắng mặt tại địa phương. Cần giao cháu Cư Thị Nhật A– Sinh ngày 15 tháng 4 năm 2020 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu A là 1.000.000 đ/01 tháng.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử cho chị Lý Thị V được ly hôn anh Cư Văn T
2. Về con chung:
Giao cháu Cư Thị Nhật A– Sinh ngày 15 tháng 4 năm 2020 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu A trưởng thành (Đủ 18 tuổi) Anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đ/01 tháng đến khi cháu A trưởng thành.
Sau ly hôn anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, hàng tháng người phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí:
Chị Lý Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001566 ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Anh Cư Văn T phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện (2); - Chi cục THADS huyện; - UBND xã XH; - Các đương sự (2); - Lưu Hsơ; L | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Quang Đại |