- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Gia V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Gia V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Võ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22 /2022/HS-ST Ngày: 29/7/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm và ông Nguyễn Hồng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Vân – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Phúc – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần phần trụ sở Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Hồ Gia V, sinh năm 1998; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố PH 2, phường 9, thành phố TH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hó a (học vấn): 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Xuân L, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/01/2022 bị Cơ quan điều tra hình sự Khu vực 3 – Quân chủng Phòng không – Không quân khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự ; tạm giam từ ngày 07/10/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên; có mặt.
2. Võ Văn T, sinh năm 2002; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố NT 6, phường 9, thành phố TH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hó a (học vấn): 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đức Đ, sinh năm 1972 và bà Đặng Thị Hồng T, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 07/10/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Hồ Gia V: Ông Ngô Minh Tùng – Luật sư Văn phòng Luật sư Số 1, thuộ c Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Quang V, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Khu phố CĐ, Thị trấn CT, huyện TA, tỉnh Phú Yên; có mặt.
2. Dương Ngọc T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn HĐ, xã AM, huyện TA, tỉnh Phú Yên; có mặt.
3. Lê Anh T, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Khu phố ĐN, phường HHN, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.
4. Hà Kỳ H, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Khu phố LB, thị trấn CT, huyện TA, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.
5. Lê Ngọc D, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn BC, xã AD, huyện TA, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.
6. Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1991. Nơi cư trú: 416/19/30 L L Q, phường 5, Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh; vắ ng mặ t.
7. Nguyễn Huỳnh Ngọc T B, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn LT 1, xã BK, thành phố TH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.
8. Phạm Hoàng Minh V, sinh năm 1995. Nơi cư trú: A120/6 N T, phường 5, thành phố TH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.
9. Đặng Tấn Phi H, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Khu phố NT 5, phường 9, thành phố TH, tỉnh Phú Yên; có mặt.
10. Trần Triệu Q, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Khu phố NT 6, phường 9, thành phố TH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 07/10/2021, Hồ Gia V sử dụng tài khoản Zalo gọi điện, nhắn tin cho Võ Văn T nói qua khu nhà BH lấy chìa khóa về nhà V mở cửa lấy ma túy đá đi bán. T cùng Đặng Tấn Phi H đến thì V bảo T lấy 02 gói ma túy đá để ở kệ tủ gỗ trong phòng nhà V đem bán cho một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại cây xăng hợp tác xã NT 6, phường 9, thành phố TH với giá 800.000 đồng. T điều khiển xe môtô hiệu Exciter biển số 78C1-359.07 chở Hoá đến nhà V. Hóa đứng ngoài cổng trông xe, T mở cửa vào phòng V lấy 02 gói ma túy bỏ vào khẩu trang gói lại giấu vào túi áo khoác rồi chở Hóa đến cây xăng hợp tác xã NT 6, chưa kịp giao bán ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Kết quả điều tra xác định, từ tháng 11/2020 đến ngày 06/10/2021, V đã 05 lần bán ma túy đá, T 13 lần đi bán ma túy đá cho V và được V trả tiền công mỗi lần từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, cụ thể:
- V 03 lần bán ma tú y đá cho Hà Kỳ H trú khu phố LB, thị trấn CT, huyện TA. Lần 01 và lần 02 đều trong tháng 5/2021, mỗi lần bán 500.000 đồng; lần 03: Trong tháng 9/2021, bán 400.000 đồng; tấ t cả đề u tại khu vực gần Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên.
- V 02 lần bán ma tú y đá cho Lê Anh T, trú khu phố ĐN, phường HHN, thị xã ĐH. Lần 01, khoảng 17 giờ một ngày giữa tháng 11/2020, bán 500.000 đồng; lần 02, khoảng 16 giờ 30 phút một ngày cuối tháng 3/2021, bán 400.000 đồng; tât cả đều tại ngã tư đường NTT - đường đi ĐB, phường 9, thành phố TH.
- T 05 lần bán ma túy đá cho Lê Quang V, trú khu phố CĐ, thị trấn CT, huyện TA. Lần 01, khoảng 21 giờ một ngày trong tháng 4/2021, bán 300.000 đồng tại cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên; lần 02, khoảng 12 giờ một ngày trong tháng 6/2021, bán 300.000 đồng tại nhà T; lần 03, khoảng 11 giờ một ngày trong tháng 7/2021, bán 300.000 đồng tại dốc CS, đường đi ĐB, phường 9, thành phố TH; lần 04, khoảng 11 giờ 30 phút một ngày đầu tháng 9/2021, Quang V gọi điện cho T hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, T đồng ý và hẹn tại hẻm đường đi ĐB, phường 9, thành phố TH; khi Quang V đến thì một Ngọc T niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đưa ma túy cho Quang V; lần 05, khoảng 19 giờ ngày 06/10/2021, Quang V gọi điện cho T hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, T đồng ý và hẹn Quang V tại trước trường Trung họ c cơ sở ĐTH, phường 9, thành phố TH; T nói V thì V nói T đến nhà V lấy ma túy bán cho Quang V.
- T 03 lần bán ma túy đá cho Dương Ngọc T, trú thôn HĐ, xã AM, huyện TA. Lần 01, khoảng 20 giờ một ngày trong tháng 5/2021, Ngọc T gọi cho T hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, T nói lại cho V và được V đồng ý, nói T lại nhà V lấy ma túy đá giao cho Ngọc T tại trước cổng trường Trung họ c cở sở ĐTH, phường 9, thành phố TH; lần 02, khoảng 21 giờ một ngày đầu tháng 6/2021, Ngọc T gọi cho T hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá, T nói lại cho V và được V đồng ý, nói T lại nhà V lấy ma túy đá giao cho Ngọc T tại địa điểm bên cạnh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên; lần 03, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/10/2021, Ngọc T gọi điện cho T hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, T hẹn Ngọc T tới trước cổng trường tiểu học B, phường 9, thành phố TH rồi gọi điện thoại cho V nói có người mua ma túy đá. V đồng ý và nhờ một thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) giao ma túy cho Ngọc T.
- T 02 lần bán ma túy cho Lê Anh T, trú khu phố ĐN, phường HHN, thị xã ĐH. Lần 01, khoảng 17 giờ 30 phút một ngày trong tháng 11/2020, Anh T gọi điện cho V hỏi mua 350.000 đồng ma túy đá. V đồng ý và hẹn tại đường bên hông Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên, khoảng 10 phút sau, T đến giao ma túy cho Anh T và nhận tiền; lần 02, khoảng 17 giờ một ngày cuối tháng 12/2020, Anh T gọi điện cho V hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. V đồng ý và hẹn tại ngã tư đường NTT - đường đi ĐB, thuộ c phường 9, thành phố TH; sau đó, T đến giao bán ma túy cho Anh T và nhận tiền.
- Khoảng 16 giờ 30 phút một ngày cuối tháng 5/2021, T bán cho Hà Kỳ H 500.000 đồng ma túy đá tại ngã tư đường H – đường N, thuộ c phường 9, thành phố TH.
- Khoảng 20 giờ một ngày trong tháng 5/2021, T bán cho Lê Ngọc D 300.000 đồng ma túy đá tại khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên.
- Khoảng 16 giờ một ngày trong tháng 6/2021, một thanh niên tên Q B (chưa xác định) gọi điện cho T hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. T nói lại cho V và được V đồng ý, nói T lại nhà V lấy ma túy đem giao bán cho B tại ngã tư đường H – A, thuộ c phường 9, thành phố TH.
- Khoảng 22 giờ một ngày đầu tháng 10/2021, V cùng Trần Triệu Q gặp một Ngọc T niên tên B (chưa xác định). Lúc này, B đang cầm một túi xách màu đen và hỏi Q: “Có chỗ nào sử dụng ma túy không?”, Q hỏi đến nhà V được không thì V đồng ý. Khi V, Q, B về nhà V thì gặp T đang ở đó. V lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, phần nỏ thủy tinh của bộ dụng cụ chứa sẵn ma túy đá, bật lửa đốt hơ nỏ thủy tinh đưa cho B, Q rồi đến V sử dụng, mỗi người hút khoảng 03 lần thì hết số ma túy trong nỏ. Khoảng 23 giờ cùng ngày, B nói với Q, V và T: “giờ anh đi công chuyện nên gửi lại túi xách ở đây” rồi ra về. T tò mò mở túi xách ra thấy 01 khẩu súng màu đen. V, T và Q lần lượt cầm khẩu súng lên xem. V nói “Thôi cất lại cho ổng lỡ có chuyện gì mắc công” nên T để khẩu súng vào lại trong túi xách. Q cầm túi xách để vào tủ gỗ đựng quần áo để có chỗ nằm ngủ. V nhìn thấy nhưng không ý kiến gì mà vẫn cất giấu khẩu súng trên.
Kết quả khám xét khẩn cấp phòng của V thu giữ 02 bì nilon chứa tinh thể màu trắng, 02 bì chứa 39 viên nén màu hồng, 02 bì nilong chứa chất bột màu cam, 01 bì nilong chứa chất bột màu hồng, 01 bì nilon có 01 mảnh viên nén màu xanh, 01 khẩu súng màu đen, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09 ngày 12/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 gói ma túy T đem bán là chất ma tuý Methamphetamine có tổng khối lượng 0,433 gam. Chất tinh thể màu trắng trong 02 bì nilon, 39 viên nén màu hồng, mảnh viên nén màu xanh, chất bột màu cam, màu hồng thu giữ tại nhà V đều là ma túy loại Methamphetamine và MDMA, có tổng khối lượng 98,983 gam.
Kết luận giám định số 296/GĐ-PC09 ngày 21/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Khẩu súng màu đen không số hiệu, dài 45cm là vũ khí quân dụng.
Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố: Bị cáo Hồ Gia V về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “ Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Điểm b, Khoản 3 Điều 251; Điểm b, Khoản 2 Điều 255; Khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b, Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Các bị cáo Hồ Gia V và Võ Văn T vẫ n khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặ ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Hồ Gia V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Võ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Áp dụng Điểm b, Khoản 3 Điều 251; Điể m s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Hồ Gia V từ 15 năm đế n 15 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 255; Điểm r, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điề u 54 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Hồ Gia V từ 04 năm đế n 05 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 304; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Hồ Gia V từ 01 năm đế n 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt nhiề u tộ i, buộ c bị cá o Hồ Gia V phải chấp hành hình phạt chung từ 20 đến 21 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2021.
- Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Võ Văn T từ 07 năm đế n 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2021.
Về xƣ̉ lý vật chứng: Áp dụng Điể m a, c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c, Khoản 2; Điể m b, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (Mộ t) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh Phú Yên. Phòng Kỹ thuật hình sự. Hoàn trả cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên: A1=0,322g, còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09, ngày 12/10/2021”.
+ 01 (Mộ t) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh Phú Yên. Phòng Kỹ thuật hình sự. Hoàn trả cho CSĐT Công an tỉnh Phú Yên: A2=90,977g, A3=3,042g, A4=0,852g, A5.1=0,151g, A5.2=0,386g, A6=0,153g, A7=0,187g, A8=0,107g, còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09, ngày 12/10/2021”.
+ 01 (Mộ t) túi vải màu đỏ kích thước (20 x 25) cm, loại túi đeo chéo, 01 (Mộ t) túi xách màu đen hiệu DELL, kích thước (40 x 30) cm; 20 (Hai mươi) bì nilon màu hồng, kích thước (04 x 03) cm chưa qua sử dụng; 01 (Mộ t) hộp giấy màu đen kích thước (07x07x04)cm, mặt trên có chữ for you; 01 (Mộ t) cân điện tử màu đen, kích thước (11 x 6) cm, mặt trên có 04 nút bấm; 01 (Mộ t) kéo kim loại màu trắng, dài 11 cm, đầu kéo bị cháy đen; 01 (Mộ t) bộ nỏ gồm: 01 (Mộ t) chai nhựa màu xanh, cao 20cm, đường kính 05cm; 01 (Mộ t) nỏ thủy tinh màu trắng; 01 (Mộ t) ống hút nhựa màu xanh trắng; 50 (Năm mươi) bì nilon kích thước (04x4,5)cm, màu trắng, chưa qua sử dụng; 01 (Mộ t) đĩa sứ màu trắng hình chữ nhật, dưới đáy đĩa sứ bị cháy đen; 01 (Mộ t) thẻ card mặt trên có chữ NEM, kích thước (8,5 x 5)cm; 15 (Mườ i lăm) ống nhựa, loại dùng để hút nước, kích thước chiều dài 25 cm, với nhiều màu khác nhau; 01 (Mộ t) biển số xe 78C1-666.66. Số bì nilon chưa qua sử dụng của Võ Văn T; 01 (Mộ t) cái đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đường kính 22cm, dưới đáy đĩa bị cháy đen; 01 (Mộ t) cái kéo kim loại, màu trắng, chiều dài 16cm; 01 (Mộ t) đĩa sứ màu đen, đường kính 19cm; 01 (Mộ t) miếng nhựa mica, màu đen, có chữ chanel, kích thước (5 x 8)cm; 01 (Mộ t) hộp quẹt ga, màu cam; 02 (Hai) B ga mini, kích thước cao 18cm, đường kính 6,5cm; 01 (Mộ t) dụng cụ khò, chiều dài 17cm; 02 (Hai) đoạn ống hút sọc trắng cam, kích thước mỗi đoạn (01x03)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (08x13)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x08)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x03)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x06)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng kích thước (3,5x04)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x04)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu hồng, kích thước (3,5x3)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x7,5)cm.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Mộ t) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, số seri: G6TDM3XZ0D9G; 01 (Mộ t) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, số seri: F17DV25G0D9F; 01 (Mộ t) xe môtô hiệu Exciter màu xanh, biển số 78C1-359.07 và Giấy đăng ký xe mô tô biển số 78C1-359.07.
- Trả lại cho chủ sở hữu: 01 (Mộ t) giấy chứng minh nhân dân số 221543823 mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) giấy phép lái xe mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) giấy phép lái xe mang tên Hồ Gia V; 01 (Mộ t) giấy chứng minh nhân dân số 221435317 mang tên Hồ Gia V.
- Tịch thu giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên quản lý: 01 (Một) khẩu súng màu đen không số hiệu, dài 45 cm (ký hiệu A); 01 (Một) ống giảm Ngọc T hình trụ tròn dài 22cm, đường kính ngoài 03cm; 02 (Hai) nắp đậy ống ngắm và 01 (Một) bộ lục giác gồm 07 (Bảy) cái cò kích thước khác nhau.
Người bào chữa của bị cáo Hồ Gia V cho rằ ng mứ c á n mà Kiể m s át viên đề nghị đố i vớ i bị cá o là cao , nên đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồ ng hơn mứ c á n mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo.
Trong phần đối đáp, Kiểm sát viên không nhấ t trí ý kiế n củ a ngườ i bà o
chữ a, giữ nguyên quan điểm, các bị cáo xin tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tụ c tố tụ ng
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngườ i làm chứng và người đại diện hợp pháp của họ không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắ ng mặ t 07/10 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng xét thấ y , nhữ ng ngườ i nà y đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiế n của các bị cáo bị cáo, ngườ i bà o chữ a củ a bị cá o Hồ Gia V và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Hồ Gia V, Võ Văn T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đề u phù hợ p vớ i nhau; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết quả khám nghiệm hiện trường, khám xét chỗ ở khẩn cấ p, vật chứng thu giữ, kế t luậ n giá m đị nh, kết quả thự c nghiệ m điề u tra, trích xuất dữ liệu điệ n tử và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 07/10/2021, tại nhà của Hồ Gia V ở khu phố PH 2, phường 9, thành phố TH, tỉnh Phú Yên. Hồ Gia V có hành vi cất giấu 98,983 gam ma tuý Methamphetamine, MDMA và đưa cho Võ Văn T đem đi bán 0,433 gam ma túy Methamphetamine cho mộ t người phụ nữ (không xác định đượ c lai lị ch ) thì bị bắt quả tang. Từ khoảng tháng 4/2021 đến ngày 06/10/2021, Hồ Gia V đã 05 lần và giao cho Võ Văn T 13 lần bán ma tuý loại Methamphetamine cho Dương Ngọc T, Hà Kỳ H, Lê Quang V, Lê Anh T, Lê Ngọc D, Quốc Bảo. Ngoài ra , khoảng 22 giờ một ngày đầu tháng 10/2021, Hồ Gia V còn cất giấu giúp cho một ngườ i thanh niên tên B (không xác định đượ c lai lị ch) 01 khẩu súng là vũ khí quân dụng trong tủ quần áo của V; và cung cấp ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Trần Triệu Q và người thanh niên tên B sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của V. Do đó, bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Hồ Gia V về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Điểm b, Khoản 3 Điều 251; Điểm b, Khoản 2 Điều 255; Khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b, Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Hành vi của cá c bị cáo Hồ Gia V, Võ Văn T nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước; bị cáo V còn xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước, làm mất trậ t tự trị an – an toà n xã h ội. Do đó, chấ p nhậ n ý kiế n củ a Kiể m sá t viên để xử phạt nghiêm.
Đối với bị cá o Hồ Gia V là người trực tiếp cất giấu 99,416 gam ma tuý loại Methamphetamine và MDMA nhằ m và o mụ c đí ch bá n lạ i cho ngườ i khá c để kiế m lờ i; cung cấ p đị a điể m , chấ t ma tú y , bộ dụ ng cụ sử dụ ng ma tú y, tự tay bậ t lử a đố t nỏ thủ y tinh cho Trầ n Triệ u Q và người Ngọc T niên tên B sử dụ ng ma tú y đá ; cất giấu giúp cho người Ngọc T niên tên B 01 khẩu súng là vũ khí quân dụng từ mộ t ngày đầu tháng 10/2021 cho đế n khi bị phá t hiệ n. Tính chất, mứ c độ , phạm tộ i nguy hiể m, cùng một lúc xâm phạm đến nhiều khách thể , trong đó có hà nh vi nhiề u lầ n “Mua bán trái phép chất ma túy”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên hì nh phạ t cầ n phả i nghiêm khắ c, đồ ng thờ i áp dụng Khoản 1 Điề u 55 Bộ luậ t Hì nh sự để tổ ng hợ p hình phạt của nhiều tội để răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú ra hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; cung cấ p tà i liệ u chứ ng minh gia đì nh có nhiề u ngườ i thân tham gia hoạ t độ ng cá ch mạ ng , trong đó có ông nộ i Hồ Mỹ T , bà nội Trần Thị Đ , cha ruộ t Hồ Xuân Lô, cậ u ruộ t Nguyễ n Thanh T có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứ u nướ c và xây dự ng bả o vệ tổ quố c đượ c tặ ng thưở ng nhiề u Huân , Huy chương, Bằ ng khen cá c loạ i ; nên xem xé t cho bị cá o đượ c hưở ng cá c tình ti ết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luậ t Hì nh sự đố i vớ i cá c tộ i; thêm Điểm r, Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điề u 54 Bộ luậ t Hì nh sự đố i vớ i tộ i “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để quyết định hình phạt cho phù hợp.
Đối với bị cá o Võ Văn T là người giúp sức tích cực, trự c tiế p 13 lầ n đi giao ma tú y củ a bị cá o Hồ Gia V cho ngườ i mua, rồ i nhậ n tiề n bá n ma tú y về đưa lại cho V, đượ c V trả tiền công mỗi lần từ 50.000 đồ ng đế n 100.000 đồng hoặc cho thêm tiề n đổ xăng , mờ i đi ăn uố ng, nên cũ ng cầ n xử phạ t tương xứ ng và hì nh phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thấ p hơn bị cá o V. Bản thân bị cáo Võ Văn T lầ n đầ u vi phạ m phá p luậ t , đến nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên xem xé t cho bị cá o đượ c hưở ng cá c tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đị nh tạ i Đi ểm s, Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luậ t Hì nh sự để lượ ng hì nh cho phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
+ 01 (Mộ t) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh Phú Yên. Phòng Kỹ thuật hình sự. Hoàn trả cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên: A1=0,322g, còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09, ngày 12/10/2021”.
+ 01 (Mộ t) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh Phú Yên. Phòng Kỹ thuật hình sự. Hoàn trả cho CSĐT Công an tỉnh Phú Yên: A2=90,977g, A3=3,042g, A4=0,852g, A5.1=0,151g, A5.2=0,386g, A6=0,153g, A7=0,187g, A8=0,107g, còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09, ngày 12/10/2021”.
+ 01 (Mộ t) túi vải màu đỏ kích thước (20 x 25) cm, loại túi đeo chéo, 01 (Mộ t) túi xách màu đen hiệu DELL, kích thước (40 x 30) cm; 20 (Hai mươi) bì nilon màu hồng, kích thước (04 x 03) cm chưa qua sử dụng; 01 (Mộ t) hộp giấy màu đen kích thước (07x07x04)cm, mặt trên có chữ for you; 01 (Mộ t) cân điện tử màu đen, kích thước (11 x 6) cm, mặt trên có 04 nút bấm; 01 (Mộ t) kéo kim loại màu trắng, dài 11 cm, đầu kéo bị cháy đen; 01 (Mộ t) bộ nỏ gồm: 01 (Mộ t) chai nhựa màu xanh, cao 20cm, đường kính 05cm; 01 (Mộ t) nỏ thủy tinh màu trắng; 01 (Mộ t) ống hút nhựa màu xanh trắng; 50 (Năm mươi) bì nilon kích thước (04x4,5)cm, màu trắng, chưa qua sử dụng; 01 (Mộ t) đĩa sứ màu trắng hình chữ nhật, dưới đáy đĩa sứ bị cháy đen; 01 (Mộ t) thẻ card mặt trên có chữ NEM, kích thước (8,5 x 5)cm; 15 (Mườ i lăm) ống nhựa, loại dùng để hút nước, kích thước chiều dài 25 cm, với nhiều màu khác nhau; 01 (Mộ t) biển số xe 78C1-666.66. Số bì nilon chưa qua sử dụng của Võ Văn T; 01 (Mộ t) cái đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đường kính 22cm, dưới đáy đĩa bị cháy đen; 01 (Mộ t) cái kéo kim loại, màu trắng, chiều dài 16cm; 01 (Mộ t) đĩa sứ màu đen, đường kính 19cm; 01 (Mộ t) miếng nhựa mica, màu đen, có chữ chanel, kích thước (5 x 8)cm; 01 (Mộ t) hộp quẹt ga, màu cam; 02 (Hai) B ga mini, kích thước cao 18cm, đường kính 6,5cm; 01 (Mộ t) dụng cụ khò, chiều dài 17cm; 02 (Hai) đoạn ống hút sọc trắng cam, kích thước mỗi đoạn (01x03)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (08x13)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x08)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x03)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x06)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng kích thước (3,5x04)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x04)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu hồng, kích thước (3,5x3)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x7,5)cm.
Là vật cấm tàng trữ , lưu hà nh; và vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tịch thu tiêu hủy theo Điể m c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 (Mộ t) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, số seri: G6TDM3XZ0D9G; 01 (Mộ t) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, số seri: F17DV25G0D9F; 01 (Mộ t) xe môtô hiệu Exciter màu xanh, biển số 78C1-359.07 và Giấy đăng ký xe mô tô biển số 78C1-359.07 (mang tên Hồ Gia V).
Là tà i sả n củ a các bị cáo Hồ Gia V và Võ Văn T, đượ c các bị cáo sử dụng làm phương ti ện giao dị ch và đi mua bá n ma tú y, nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo Điể m a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là có căn cứ chấp nhận.
01 (Mộ t) giấy chứng minh nhân dân số 221543823 mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) giấy phép lái xe mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) giấy phép lái xe mang tên Hồ Gia V; 01 (Mộ t) giấy chứng minh nhân dân số 221435317 mang tên Hồ Gia V. Không liên quan đến tộ i phạ m, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tuyên trả cho chủ sở hữu theo Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 7 năm 2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
4.4. 01 (Một) khẩu súng màu đen không số hiệu, dài 45 cm (ký hiệu A); 01 (Một) ống giảm thanh hình trụ tròn dài 22cm, đường kính ngoài 03cm; 02 (Hai) nắp đậy ống ngắm và 01 (Một) bộ lục giác gồm 07 (Bảy) cái cò kích thước khác nhau.
Là vật cấm tàng trữ , lưu hà nh, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên quản lý theo Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 11 năm 2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên.
Về án phí: Các bị cáo Hồ Gia V và Võ Văn T bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hồ Gia V khai mua ma túy của một người phụ nữ tên Tú (không xác định đượ c lai lị ch) và chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Thị Cẩm T; khai mua ma túy của Phạm Hoàng Minh V và lấy trộm ma túy của Trần Văn V. Tuy nhiên, Phạm Hoàng Minh V không thừa nhận bán ma túy cho V, qua xác minh Nguyễn Thị Cẩm T, Trần Văn V không có mặt ở địa phương. Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được; thờ i hạ n điề u tra vụ án đã hế t, nên Cơ quan điề u tra tách tin báo để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Đặng Tấn Phi H đi cùng Võ Văn T đến cây xăng hợp tác xã NT 6, phườ ng 9, thành phố Tuy Hòa nhưng không biết T đi giao bán trái phép chất ma túy nên hành vi của Hóa không cấu thành tội phạm.
Trần Triệu Q xác định người thanh niên mang khẩu súng quân dụng đến nhà V là Nguyễn Huỳnh Thanh B nhưng B không thừa nhận và V, T không nhận dạng được B, không có tài liệu chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Võ Văn T và Trần Triệu Q thấy khẩu súng ở nhà V nhưng không biết rõ khẩu súng trên là vũ khí quân dụng, Q để túi xách bên trong có khẩu súng vào tủ của V để đặt nệm nằm ngủ nên hành vi của T và Q không cấu thành tội phạm.
Người thanh niên tên Mười được Tú nhờ giao bán ma túy cho V; người thanh niên được V, T nhờ giao bán ma túy cho Dương Ngọc T, Lê Quang V; người tên Quốc B và người phụ nữ mua ma túy của V, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch các đối tượng trên nên sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Dương Ngọc T, Hà Kỳ H, Lê Quang V, Lê Anh T và Lê Ngọc D mua ma túy của V, T nhằm mục đích sử dụng nên không cấu thành tội phạm.
Hành vi của Trần Triệu Q sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của V không cấu thành tội phạm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Gia V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Võ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Về Hì nh phạ t:
1.1. Áp dụng Điểm b, Khoản 3 Điều 251; Điể m s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự ; phạt bị cáo Hồ Gia V 15 (Mƣờ i lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 255; Điểm r, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điề u 54 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Hồ Gia V 04 (Bố n) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Khoản 1 Điều 304; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự ; phạt bị cáo Hồ Gia V 01 (Mộ t) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt nhiề u tộ i, buộ c bị cá o Hồ Gia V phải chấp hành hình phạt chung là: 20 (Hai mƣơi) năm tù , thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2021.
1.2. Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Võ Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điể m a, c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c, Khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (Mộ t) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh Phú Yên. Phòng Kỹ thuật hình sự. Hoàn trả cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên: A1=0,322g, còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09, ngày 12/10/2021”.
+ 01 (Mộ t) bao bì giấy dán kín, mặt trước có ghi: “Công an tỉnh Phú Yên. Phòng Kỹ thuật hình sự. Hoàn trả cho CSĐT Công an tỉnh Phú Yên: A2=90,977g, A3=3,042g, A4=0,852g, A5.1=0,151g, A5.2=0,386g, A6=0,153g, A7=0,187g, A8=0,107g, còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09, ngày 12/10/2021”.
+ 01 (Mộ t) túi vải màu đỏ kích thước (20 x 25) cm, loại túi đeo chéo, 01 (Mộ t) túi xách màu đen hiệu DELL, kích thước (40 x 30) cm; 20 (Hai mươi) bì nilon màu hồng, kích thước (04 x 03) cm chưa qua sử dụng; 01 (Mộ t) hộp giấy màu đen kích thước (07x07x04)cm, mặt trên có chữ for you; 01 (Mộ t) cân điện tử màu đen, kích thước (11 x 6) cm, mặt trên có 04 nút bấm; 01 (Mộ t) kéo kim loại màu trắng, dài 11 cm, đầu kéo bị cháy đen; 01 (Mộ t) bộ nỏ gồm: 01 (Mộ t) chai nhựa màu xanh, cao 20cm, đường kính 05cm; 01 (Mộ t) nỏ thủy tinh màu trắng; 01 (Mộ t) ống hút nhựa màu xanh trắng; 50 (Năm mươi) bì nilon kích thước (04x4,5)cm, màu trắng, chưa qua sử dụng; 01 (Mộ t) đĩa sứ màu trắng hình chữ nhật, dưới đáy đĩa sứ bị cháy đen; 01 (Mộ t) thẻ card mặt trên có chữ NEM, kích thước (8,5 x 5)cm; 15 (Mườ i lăm) ống nhựa, loại dùng để hút nước, kích thước chiều dài 25 cm, với nhiều màu khác nhau; 01 (Mộ t) biển số xe 78C1-666.66. Số bì nilon chưa qua sử dụng của Võ Văn T; 01 (Mộ t) cái đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đường kính 22cm, dưới đáy đĩa bị cháy đen; 01 (Mộ t) cái kéo kim loại, màu trắng, chiều dài 16cm; 01 (Mộ t) đĩa sứ màu đen, đường kính 19cm; 01 (Mộ t) miếng nhựa mica, màu đen, có chữ chanel, kích thước (5 x 8)cm; 01 (Mộ t) hộp quẹt ga, màu cam; 02 (Hai) B ga mini, kích thước cao 18cm, đường kính 6,5cm; 01 (Mộ t) dụng cụ khò, chiều dài 17cm; 02 (Hai) đoạn ống hút sọc trắng cam, kích thước mỗi đoạn (01x03)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (08x13)cm; 01 (Một) bì nilon màu trắng, kích thước (04x08)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x03)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x06)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng kích thước (3,5x04)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x04)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu hồng, kích thước (3,5x3)cm; 01 (Mộ t) bì nilon màu trắng, kích thước (04x7,5)cm.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Mộ t) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, số seri: G6TDM3XZ0D9G; 01 (Mộ t) điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro, số seri: F17DV25G0D9F; 01 (Mộ t) xe môtô hiệu Exciter màu xanh, biển số 78C1-359.07 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 78C1-359.07 (mang tên Hồ Gia V).
2.3. Trả cho bị cáo Võ Văn T : 01 (Mộ t) giấy chứng minh nhân dân số 221543823 mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) giấy phép lái xe mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Võ Văn T; 01 (Mộ t) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank mang tên Võ Văn T. Trả cho bị cáo Hồ Gia V : 01 (Mộ t) giấy phép lái xe mang tên Hồ Gia V; 01 (Mộ t) giấy chứng minh nhân dân số 221435317 mang tên Hồ Gia V.
Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 7 năm 2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
2.4. Tịch thu giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên quản lý: 01 (Một) khẩu súng màu đen không số hiệu, dài 45 cm (ký hiệu A); 01 (Một) ống giảm Ngọc T hình trụ tròn dài 22cm, đường kính ngoài 03cm; 02 (Hai) nắp đậy ống ngắm và 01 (Một) bộ lục giác gồm 07 (Bảy) cái cò kích thước khác nhau.
Vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 11 năm 2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Hồ Gia V và Võ Văn T mỗ i bị cá o phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao (1); - VKSND cấp cao (1); - VKSND tỉnh (2); - PV 27 (1); - PC 01 (1); - Sở tư pháp (1); - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu AV, HS; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |