- Tranh chấp gì? án hình sự — "BỊ CÁO TVT PHẠM TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo T.V.T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HSST Ngày 17/02/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Hồng Vinh
2. Ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh
Bình Thuận tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam,
tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2021/HSST ngày 13/10/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2021/QĐXXST-HS ngày 01/11/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/HSST-QĐ ngày 20/01/2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: T.V.T;
Giới t nh: Nam; Sinh năm 1984, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn H.TH, xã T.H, thị xã L.G, tỉnh Bình Thuận, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: làm nông; con của ông: Trần Văn Phước; sinh năm: 1941; nghề nghiệp: làm nông; con của bà: Võ Thị Liễu; sinh năm: 1957; nghề nghiệp: làm nông; Gia đình c 09 anh, chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1972, nh nhất sinh năm 1990, bị can là con thứ bảy trong gia đình; Vợ: Nguyễn Linh Đan - sinh năm: 2002; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2006, nh nhất sinh năm 2013.Tất cả có HKTT tại: thôn H.TH, xã T.H, thị xã L.G, tỉnh Bình Thuận.
- Tiền án: 02 tiền án:
+ ngày 27/7/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã L.G, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 47/2017/HSST ngày 27/7/2017.
+ Ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân thị xã L.G, tỉnh Bình Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 47/2017/HSST, buộc T.V.T phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 03 tháng tù, về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 101/2017/HSST, chấp hành xong ngày 16/01/2020. Đến nay cả 2 bản án đều chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: không
- Nhân thân:
+ Ngày 13/5/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 tháng 05 ngày tù giam, về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 35/HSST, chấp hành xong ngày 13/5/2004.
+ Ngày 27/11/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù giam, về tội “Cố ý gây thương t ch” tại Bản án số 155/2009/HSPT, chấp hành xong ngày 24/11/2010.
Bị cáo bị bắt giữ ngày 09/6/2021 đến ngày 18/6/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam cho tại ngoại; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 18/6/2020 cho đến nay.Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Trần Văn S – 1989. Trú tại: thôn H.TH, xã T.H, thị xã L.G, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
2/ Phạm Thị Thanh Th1 – 1979. Trú tại: thôn H.TH, xã T.H, thị xã L.G, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
3/ Lê Văn Thông – 1980. Trú tại: thôn H.TH, xã T.H, thị xã L.G, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
- Người chứng kiến: Hà Hồng Hạnh – 1996. Trú tại: thôn H.Nh, xã T.TH, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo T.V.T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh
Bình Thuận truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 09/6/2021, T.V.T điều khiển mô tô biển kiểm soát
86B6-441.85 hiệu Exciter trên đường ĐT 719 khu vực Dốc Dầu thuộc thôn Thạnh Mỹ, xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam, thì bị lực lượng Biên phòng Tân Thành phối hợp với Công an xã Tân Thành đang tuần tra kiểm soát phát hiện T c nhiều nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện 01 đoạn ống nhựa được hàn k n hai đầu, bên trong c chứa chất tinh thể màu trắng (ma túy đá) cách vị tr T đứng khoảng 1,5m, đồng thời tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.
T.V.T khai nhận khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, T nhận được điện thoại qua mạng facebook của một người tên Thiện (hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) nhờ mua giúp ma túy với giá 800.000 đồng, Thiện hứa sẽ cho T 01 cây mai thì T đồng ý và Thiện hẹn gặp T tại khu vực Thanh Long Bay thuộc xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam để giao ma túy. Sau đ , T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B6-441.85 hiệu Exciter xuống thị xã L.G gặp một người chạy xe ôm (hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) h i mua ma túy với giá 800.000 đồng, người xe ôm đồng ý và đưa cho T một đoạn ống hút bằng nhựa được hàn k n hai đầu bên trong c chứa chất tinh thể màu trắng (ma túy đá), khi c ma túy T cất vào bên trong k nh chiếu hậu bên trái xe mô tô biển kiểm soát 86B6-441.85 hiệu Exciter rồi điều khiển xe mô tô trên lên xã Tân Thành để giao ma túy cho Thiện, đến 11 giờ thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tang vật tạm giữ:
+ 01 đoạn ống nhựa k ch thước (3,4 x 01)cm được hàn k n hai đầu, bên
trong c chứa chất tinh thể màu trắng;
+ 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 6s màu hồng, c sim số 0969864368;
+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 86B6-441.85 hiệu Exciter;
Tại bản kết luận giám định số 745/KLGĐ-PC09 ngày 14/6/2021 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
+ 01 đoạn ống nhựa, được hàn k n hai đầu, bên trong c chứa chất tinh
thể màu trắng (ký hiệu Mẫu M) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine c khối lượng 0,3477 gam.
Về xử lý vật chứng:
- 01 đoạn ống nhựa và 0,2903 gam Methamphetamine (ma túy đá) còn
lại sau giám định, 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 6s màu hồng, c sim số 0969864368. Đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam để quản lý.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 86B6-441.85 hiệu Exciter quá trình
điều tra đã xác minh làm rõ là tài sản của chị Phạm Thị Thanh Th1, sinh năm 1979, trú thôn H.TH, xã T.H, thị xã L.G, cầm cố cho Trần Văn S, sinh năm 1989 là em ruột của T, do không c xe đi nên S đã cho T mượn, việc T xử dụng xe để đi mua ma túy Th1 và S không biết nên ngày 02/9/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu là chị Th1;
Cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 30/9/2021, Viện kiểm sát nhân dân
huyện Hàm Thuận Nam truy tố T.V.T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm
Thuận Nam phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo T.V.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: T.V.T từ 12 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoảng 1 Điều 47 bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy đối với 01 đoạn ống nhựa và 0,2903 gam Methamphetamine (ma túy đá) còn lại sau giám định.
Đối với điện thoại hiệu IPHONE 6s màu hồng c sim số 0969864368 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã mô tả, thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về t nh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo T.V.T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận này phù hợp với các chứng cứ c trong hồ sơ; do đ đã đủ cơ sở xác định:
Lúc 11 giờ ngày 09/6/2021, trên đường ĐT 719 khu vực Dốc Dầu
thuộc thôn Thạnh Mỹ, xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, T.V.T bị bắt quả tang đang tàng ma túy loại Methamphetamine c khối lượng 0,3477 gam.
Hành vi của bị cáo T.V.T đã đủ yếu tố cấu T tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo T khẩn khai báo, bị cáo đã từng t ch cực hợp tác với cơ quan Công an xã Tân Thành và Đồn biên phòng Tân Thành trong việc phát hiện tội phạm, c xác nhận của Công an xã Tân Thành và Đồn biên phòng Tân Thành, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.
Bị cáo T.V.T c 02 tiền án chưa được x a án t ch, nay lại phạm tội với lỗi cố ý. Do đ , bị cáo T.V.T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về mức hình phạt:
Bị cáo T.V.T là một công dân c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm ch nh sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, hơn nữa, bị cáo c nhân thân xấu, Do đ Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với đối tượng tên Thiện là người nhờ T mua giúp ma túy. Tuy nhiên quá trình điều tra không xác định được rõ họ tên, địa chỉ, quá trình kiểm tra điện thoại của T.V.T cũng không tìm được người c tài khoản Facebook tên thiện đã liên hệ để nhờ T mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam không đủ căn cứ xử lý đối với Thiện.
Về vật chứng:
- 01 đoạn ống nhựa và 0,2903 gam Methamphetamine (ma túy đá) còn
lại sau giám định, là vật cấm lưu hành, không c giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- đối với điện thoại hiệu IPHONE 6s màu hồng c sim số 0969864368, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 86B6-441.85 hiệu Exciter quá trình
điều tra đã xác minh làm rõ là tài sản của chị Phạm Thị Thanh Th1 cầm cố cho Trần Văn S là em ruột của T, do không c xe đi nên S đã cho T mượn, việc T xử dụng xe để đi mua ma túy Th1 và S không biết, hơn nữa Th1 đã trả tiền cầm cố xe cho S nên ngày 02/9/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu là chị Th1; việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là c căn cứ nên không đặt ra để xử lý tiếp theo.
Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo T.V.T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt T.V.T: 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bị bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian từ ngày 09/6/2021 đến ngày 18/6/2021.
[2] căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 đoạn ống nhựa và 0,2903 gam Methamphetamine (ma túy đá) còn lại sau giám định.
Trả lại cho T.V.T điện thoại hiệu IPHONE 6s màu hồng c sim số 0969864xxx.
(tất cả vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Nam, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2022)
[3] Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo T.V.T phải nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND Hàm Thuận Nam; - CCTHADS Hàm Thuận Nam; - Công an Hàm Thuận Nam; - Người TGTT; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Vũ |