vanban.org

Bản án 22/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy”.

Xử phạt Vũ Ngọc T 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VŨ NGỌC TÚ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày 18/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Khiếu

Bà Phạm Thị Sinh

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2021/TLST-HS ngày 28/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc T, sinh ngày 12/7/1971;

- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ , phường P, thành phố B, tỉnh B.

- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

- Con ông Vũ Ngọc S, sinh năm 1941 và bà Dương Thị T, sinh năm 1944 cả hai đều đã chết.

- Vợ: Nguyễn Thị L và 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2003; đều trú tại: Tổ , phường P, thành phố B, tỉnh B.

- Tiền án, tiền sự: Không;

Quá trình hoạt động của bị cáo Vũ Ngọc T.

+ Ngày 25/9/1996, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Thái xử phạt 12 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

+ Ngày 15/4/1999, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã chấp hành xong bản án).

+ Ngày 27/10/2004, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Đã chấp hành xong bản án).

+ Năm 2001, bị Uỷ ban nhân dân thị xã Bắc Kạn áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo tại ngoại nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 25 phút, ngày 07/9/2021, tại tầng 4, nhà C, khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn, thuộc tổ Khuổi Thuổm, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Vũ Ngọc T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma Ty. Qua kiểm tra Vũ Ngọc T tự nguyện giao nộp 01 túi ni lon nhỏ màu trắng, miệng Ti có nẹp chỉ màu đỏ, mở Ti ni lon ra bên trong có 03 (ba) gói giấy nhỏ, bên trong đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma Ty (Heroine). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong túi ni lon chứa 03 (ba) gói chất bột màu trắng nêu trên trong phong bì có chữ ký giáp lai của Vũ Ngọc T và những người tham gia. Ngoài ra, còn tạm giữ của Vũ Ngọc Tú 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE bên trong có 01 sim Viettel. Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Công an phường Huyền Tụng đã bàn giao Vũ Ngọc Tu cùng toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn để giải quyết theo thẩm quyền .

Cùng ngày 07/9/2021, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng trong 03 (ba) gói đã niêm phong trong phong bì nói trên, xác định tổng khối lượng là 0,19 gam (không phẩy mười chín gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định, phong bì, Ti nilon và gói giấy cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu B2.

Tại Kết luận giám định số 160/KTHS-MT ngày 16/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma Ty, loại Heroine, có khối lượng là: 0,19 gam (không phẩy mười chín gam)”. Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì T160 hoàn trả lại cho cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, Vũ Ngọc T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bị thu giữ khi bắt quả tang là ma Ty, loại Heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân, không có mục đích nào khác.

Về nguồn gốc số ma tuý, T khai nhận: Vũ Ngọc T là người nghiện ma tuý, ngày 01/9/2021 T nhập viện điều trị bệnh lý tại khoa Truyền nhiễm bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn. Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 07/9/2021, Vũ Ngọc T đi từ khoa Truyền nhiễm, đến khu vực đối diện cổng Bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn, thuộc tổ 11, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, qua nói chuyện T biết người này có ma tuý bán nên T mua của người này 03 gói ma tuý (heroine) với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, T nhặt ở gần đó 01 Ti nilon màu trắng có nẹp đỏ rồi cho 03 (ba) gói ma tuý vừa mua được vào đó rồi cất giấu ma tuý vào Ti quần đang mặc đi về khoa Truyền nhiễm của Bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn tiếp tục điều trị bệnh. Đến khoảng hơn 11 giờ 00 ngày 07/9/2021, Vũ Ngọc T đem theo 03 (ba) gói ma tuý đi tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma Ty.

* Về vật chứng:

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn nhập kho vật chứng để bảo quản theo quy định gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T160; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2; 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, trắng đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0359959743.

Bản cáo trạng số 02/CT - VKSTPBK ngày 28/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Vũ Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma Ty” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma Ty mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma Ty thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị HĐXX xử lý như sau:

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Ty” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 15 năm đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình chấp hành bản án.

2. Hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS 2015.

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T160;

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, trắng đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0359959743.

Về án phí buộc bị cáo T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 11 giờ 25 phút, ngày 07/9/2021, tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn, thuộc tổ Khuổi Thuổm, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Vũ Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam (không phẩy mười chín gam) ma Tuy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma Ty” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Việc truy tố, xét xử bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo Vũ Ngọc T là người có nhân thân sấu.

+ Ngày 25/9/1996, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Thái xử phạt 12 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (quá trình xác minh tại cơ quan Thi hành án dân sự không còn lưu giữ tài liệu có liên quan về phần thi hành án dân sự).

+ Ngày 15/4/1999, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã chấp hành xong bản án).

+ Năm 2001, bị Uỷ ban nhân dân thị xã Bắc Kạn áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.

+ Ngày 27/10/2004, bị Toà án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (đã chấp hành xong bản án);

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma Ty ngày 07/9/2021 của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải có bản án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Vũ Ngọc T không có nghề nghiệp, không có tài sản, xét thấy không có điều kiện kinh tế do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung “phạt tiền” đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T160;

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, trắng đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0359959743.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Vũ Ngọc T 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi

chấp hành bản án.

2. Hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS 2015.

* Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T160;

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, trắng đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0359959743.

(Tình trạng, số lượng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Bắc Kạn và chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn ngày 11/ 01 /2022).

4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ