- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Vĩnh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lý Vĩnh Đ, Nguyễn Thị Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày: 29-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Thẩm phán:
Ông Đặng Ngọc Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Hiệp
2. Ông Chu Minh Chiến
3. Ông Trần Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Liễu - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2022/QĐXXST-HS ngày 11/7/2022 đối với các bị cáo:
1. Lý Vĩnh Đ, sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKHKTT: 1/1 N, Phường 6, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: 14/12 Bạch Đằng, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: Lớp 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông Lý Quốc T và bà Phạm Thị X; vợ Hoàng Mỹ V, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 47/HSST ngày 28/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/6/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Nguyễn Thị Minh N (tên gọi khác: V); sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKHKTT: 20A/7 Lô 28 P, phường 4, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: 14/12 Bạch Đằng, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Tố N, sinh năm 1974; chồng Trịnh Văn L, sinh năm 1988 (không đăng ký kết hôn) và có 01 người con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/6/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đ: Luật sư Nguyễn T – Văn phòng Luật sư N, Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: 129 N, phường 8, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nông Thái Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: 66 Lý Thường Kiệt, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;
2. Ông Trềnh Xú K, sinh năm 1956; nơi cư trú: 11 Bế Văn Đàn, khu phố 5, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;
3. Ông Lương Đức M, sinh năm 1991; nơi cư trú: 73/5 Sư Vạn Hạnh, tổ 19, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;
4. Bà Triệu Thị D, sinh năm 1985; nơi cư trú: Phòng trọ số 1, 45/1 Bùi thị Xuân, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;
5. Ông Nông Đình Chính T, nơi cư trú: 14/15 tổ 13, Bạch Đằng, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Vĩnh Đ và Nguyễn Thị Minh N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2019, đến tháng 02/2021 Đ thuê nhà ở cùng N tại 14/12 Bạch Đằng, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Lý Vĩnh Đ là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền sử dụng ma túy đá và tiêu xài cá nhân, trong thời gian này Đ thường xuyên mua ma túy đá (của một số đối tượng tại huyện Đ, Đ không rõ nhân thân lai lịch) về để sử dụng và bán lại cho Nông Thái Đ (tên gọi khác là Bê, sinh năm 1985, HKTT: 66 Lý Thường Kiệt, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) và Trềnh Xú K (tên gọi khác là Cắm, sinh năm 1956, trú tại: 17 Bế Văn Đàn, khu phố 5, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) để kiếm lời. Với mục đích mua số lượng ma túy lớn về bán kiếm lời, vào ngày 12/6/2021 Đ đã liên lạc với một người tên Hiếu (không rõ nhân thân, lai lịch) tại Thành phố Hồ Chí Minh qua mạng xã hội, để thỏa thuận mua 130g ma túy đá của H với giá 25.000.000đ, H đồng ý và yêu cầu Đ chuyển tiền thanh toán ma túy cho H bằng cách chuyển khoản cho người tên Nguyễn Thị Bé H tại Ngân hàng ACB. Theo yêu cầu của H, tối ngày 12/6/2021 Đ đã chuyển cho H 15.000.000đ vào tài khoản mà H yêu cầu nêu trên. Đến sáng ngày 14/6/2021, Đ đến kho nhận hàng tại Công ty TNHH Thành Bưởi ở huyện Đ để nhận gói hàng có chứa ma túy đá do Hiếu gửi lên cho Đ theo thỏa thuận, sau khi nhận gói hàng là một hộp giày thì Đ mang về nhà trọ và mở ra thấy bên trong gói hàng có một đôi giày, một gói đựng khoảng 100g ma túy đá, một gói đựng khoảng 30g ma túy đá; sau đó Đ đã cất gói đựng khoảng 30g ma túy đá trên khay sắt để dưới gầm bàn và cất gói đựng khoảng 100g ma túy đá ở trên kệ tủ quần áo trong phòng ngủ; khi mua và cất giấu số ma túy này thì Đ đều không cho N biết.
Khoảng 22 giờ 00 ngày 14/6/2021 Nông Thái Đ được một người có tên là Út Hưng (không rõ nhân thân lai lịch) đi cùng với một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ Đ hỏi giúp ở đâu còn ma túy đá để Út Hưng mua, Đ liên lạc với Đ hỏi Đ “còn ma túy không” thì Đ trả lời “còn”, Đ nói Đ bán cho Út Hưng một hộp năm, Đ đồng ý. Sau đó Đ nhận được các tin nhắn mua ma túy từ máy của Đ (mua thêm nửa hộp năm...). Do không biết cụ thể Đ mua bao nhiêu ma túy nên Đ lấy khoảng 10g ma túy đá trong gói ma túy mà Đ cất giấu dưới gầm bàn, bỏ vào bịch nylon sau đó gói vào trong miếng giấy vệ sinh màu trắng rồi cất vào trong túi áo khoác mà Đ đang mặc. Sau đó, Đ chở N bằng xe máy (mà Đ và N mượn trước đó của Nông Thái Đ) đến phòng trọ nơi Nông Thái Đ ở tại 45/1 Bùi Thị Xuân, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; lúc gần đến phòng trọ, Đ lấy gói giấy vệ sinh có chứa ma túy đá đưa cho N và nói:“Đưa cái này cho anh Bê, nếu anh Bê đưa tiền thì lấy, không đưa thì thôi”. Lúc này, N biết trong gói giấy Đ đưa có đựng ma túy nhưng không nói gì mà cầm cất vào túi quần và đi đến trước cửa phòng trọ của Nông Thái Đ (Bê), khi N chưa kịp giao ma túy cho Nông Thái Đ thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, N đã tự lấy trong túi quần của mình gói ma túy do Đ đưa nêu trên giao nộp cho Cơ quan Công an và khai nhận đây là gói ma túy của Đ đưa cho N để giao cho Đ. Kiểm tra trong gói giấy Cơ quan Công an phát hiện chứa chất nghi là ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý Vĩnh Đ và Nguyễn Thị Minh N, thu giữ niêm phong vật chứng nghi là ma túy vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 14/6/2021.
Đồng thời, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở do Đ thuê tại số 14/12 Bạch Đằng, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình khám xét tại phòng ngủ của Đ phát hiện, thu giữ trong một khay kim loại để dưới nền nhà có chứa 01(một) gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01(một) cân tiểu ly điện tử màu đen có in chữ POCKET SCALE. Tiếp tục kiểm tra phát hiện, thu giữ trên kệ tủ quần áo có 01 (một) hộp giấy bên trong hộp giấy có 01 (một) gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
Quá trình điều tra xác định, ngoài lần mua bán ma túy bị Cơ quan Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bắt quả tang nêu trên thì từ khoảng tháng 02/2021 đến tháng 5/2021 Đ còn bán ma túy đá cho Nông Thái Đ và Trềnh Xú K nhiều lần. Trong những lần bán ma túy cho Nông Thái Đ và Trềnh Xú K nêu trên thì có 03 lần Đ nhờ N giao ma túy cho Đ và 03 lần Đ nhờ N giao ma túy cho Trềnh Xú K. Tuy nhiên, khi đưa cho N để giao cho Đ và K thì Đ không nói cho N biết đó là ma túy và N cũng không biết bên trong những đồ vật mà Đ nhờ N giao có ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của N và Đ khi bắt quả tang: 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy gói trong một đoạn giấy vệ sinh; được niêm phong trong phong bì, có chữ ký nghi tên Nguyễn Thị Minh N, Lý Vĩnh Đ, Triệu Thị D, Trương Tiến Dũng và có hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn L.
- Thu giữ của Đ:
+ Thu giữ trong khay sắt dưới gầm bàn trong phòng ngủ của Lý Vĩnh Đ là 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; được niêm phong trong phong bì, có chữ ký ghi tên Lý Vĩnh Đ, Nông Đình Chính T, Hàn Văn Thủy và có hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn L.
+ Thu giữ trong hộp giấy trên kệ tủ quần áo trong phòng ngủ của Lý Vĩnh Đ 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; được niêm phong trong phong bì, có chữ ký ghi tên Lý Vĩnh Đ, Nông Đình Chính T, Hàn Văn Thủy và có hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn L.
+ 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 51F3-8648, đây là xe mà Đ và N mượn của Nông Thái Đ, Đ và N đã sử dụng chiếc xe này để làm phương tiện đi giao ma túy cho Nông Thái Đ và bị Cơ quan quan Công an thu giữ khi bắt quả tang. Qua giám định, xác định chiếc xe này đã bị thay đổi số khung, số máy, riêng biển kiểm soát của xe 51F3-8648 có giấy đăng ký xe tên Đào Minh V, trú tại: 750/15 Đ, Phường 10, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Lâm Đồng đã ủy thác điều tra nhưng đến nay chưa có kết quả.
+ 01 (một) điện thoại hiệu Iphone màu đen, màn hình cảm ứng, đã được niêm phong theo quy định. Đ đã sử dụng điện thoại này để liên lạc trao đổi mua bán ma túy.
+ 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen, có in dòng chữ “POCKET SCALE”. Đ sử dụng chiếc cân này để cân, phân chia ma túy.
- Thu giữ của N: 01 (một) điện thoại hiệu Iphone màu đen, màn hình cảm ứng, được niêm phong theo quy định.
- Thu giữ của Nông Thái Đ:
+ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng loại Samsung màu trắng, bị nứt màn hình bên ngoài, kèm theo sim số 0826.455.826, được niêm phong theo quy định.
+ 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0919816 mang tên Đào Minh Vũ.
Ngày 15/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 233/CSĐT đối với chất ma túy đã thu giữ và niêm phong của Lý Vĩnh Đ và Nguyễn Thị Minh N. Tại Kết luận giám định số 598/GĐ-PC09, ngày 18/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:
- Phong bì 01: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong (thu giữ khi bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 9,9733g (chín phầy chín bảy ba ba gam), loại Methamphetamine.
- Phong bì 02: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong (thu giữ trong khay sắt để ở dưới gầm bàn trong phòng trọ của Đ) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 23,5477g (hai ba phầy năm bốn bảy bảy gam), loại Methamphetamine.
- Phong bì 03: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong (thu giữ trên kệ tủ quần áo trong phòng trọ của Đ) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 100,2714g (một không không phẩy hai bảy một bốn gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Sau khi giám định, số chất ma túy nêu trên được niêm phong trong hai phong bì, có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Dung, Nguyễn Văn Chiến, Mai Thế Thắng và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng. Bao gồm:
- Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định;
- Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại: M1: 9,4247g; M2: 22,0696g; M3: 97,5754g.
Cáo trạng số 05-VKSLĐ-P1 ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Lý Vĩnh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã quy kết, không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị tuyên bố các bị cáo Lý Vĩnh Đ, Nguyễn Thị Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Vĩnh Đ mức án 20 năm tù. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh N mức án từ 04 đến 05 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Luật sư Nguyễn Tuất bào chữa cho bị cáo Lý Vĩnh Đ: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người bào chữa, người làm chứng không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lý Vĩnh Đ, Nguyễn Thị Minh N khai nhận:
Ngày 12/6/2021, Lý Vĩnh Đ đã có hành vi mua 133,7924g ma túy loại Methamphetamine về cất giấu trong phòng ngủ tại nhà trọ của Đ, địa chỉ: Số 14/12 Bạch Đằng, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Đến đêm ngày 14/6/2021 Lý Vĩnh Đ lấy 9,9733g ma túy loại Methamphetamine đựng trong túi nylon và lấy giấy vệ sinh quấn bên ngoài mang đi bán cho Nông Thái Đ (tên gọi khác là: Bê), khi đi Đ rủ Nguyễn Thị Minh N đi cùng, trên đường đi Đ đưa gói ma túy cho N và nói “đưa cái này cho anh Bê, nếu anh Bê đưa tiền thì lấy, không đưa thì thôi”, N biết bên trong gói giấy chứa ma túy nên N đã cất giấu gói ma túy vào túi quần và khi đến phòng trọ của Nông Thái Đ tại số 45/1 Bùi Thị Xuân, thị trấn L, huyện Đ thì N đi vào phòng trọ của Đ để giao gói ma túy trên cho Đ theo yêu cầu của Đ, khi N đến trước cửa phòng trọ của Đ thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ cùng tang vật, đồng thời tiến hành khám xét tại phòng ngủ của Đ thu giữ số ma túy Đ còn cất giấu là: 123,8191g ma túy loại Methamphetamine.
Như vậy, Nguyễn Thị Minh N có hành vi giúp sức cho Lý Vĩnh Đ để bán 9,9733g ma túy loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định trước khi bị bắt quả tang Đ đã nhiều lần bán ma túy cho Nông Thái Đ và Trềnh Xú K.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa hôm nay, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định; Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tuyên bố bị cáo Lý Vĩnh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Nguyễn Thị Minh N Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Lý Vĩnh Đ, Nguyễn Thị Minh N là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có tiền tiêu xài cá nhân và ma túy để sử dụng, các bị cáo đã mua ma túy về để bán lại, tổng khối lượng là 123,8191g, loại Methamphetamine. Ma túy là chất gây nghiện đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, khối lượng ma túy các bị cáo mua bán là rất lớn. Do vậy, cần quyết định mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Việc Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo N để xử bị cáo N dưới khung hình phạt là không đảm bảo yêu cầu phòng chống tội phạm nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị Minh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Lý Vĩnh Đ phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo Nguyễn Thị Minh N đã hợp tác với cơ quan Công an tự nguyện giao nộp gói ma túy và khai nhận gói ma túy khi bị bắt quả tang là của Đ nên Cơ quan điều tra đã bắt giữ Đ và khám xét thu giữ ma túy của Đ cất giấu tại nhà trọ của Đ. Do đó các bị cáo Lý Vĩnh Đ và Nguyễn Thị Minh N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Minh N được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính thì cũng cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lý Vĩnh Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp.
Đối với những đối tượng liên quan trong vụ án:
- Nông Thái Đ là người thường xuyên mua ma túy đá của Lý Vĩnh Đ để sử dụng chung với Lương Đức Minh và Trần Minh Tường, mỗi lần mua từ 200.000đ đến 300.000đ, đến ngày 14/6/2021 Đ tiếp tục hỏi mua ma túy đá của Đ giúp cho Út Hưng, khi Út Hưng đi cầm điện thoại để lấy tiền mua ma túy. Lúc này Đ và N mang ma túy đến trước cửa phòng trọ để giao ma túy thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang đối với Đ và N. Quá trình điều tra, Đ chỉ thừa nhận việc hỏi Đ có ma túy không, còn việc giao dịch mua ma túy như thế nào sau đó thì Đ không rõ, hiện nay Cơ quan điều tra chưa có đủ thông tin để xác minh làm việc với người tên Út Hưng và người thanh niên đi chung với Út Hưng nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Đ và đối tượng tên Út Hưng. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và đề nghị xử lý những đối tượng trên theo quy định của pháp luật. Riêng đối với các lần góp tiền cùng với Lương Đức Minh (sinh năm 1991, trú tại: 75/3 Sư Vạn Hạnh, tổ 19, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) và Trần Minh Tường (sinh năm 1991, trú tại: 40 Hoàng Hoa Thám, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) mua ma túy đá của Đ để sử dụng, Cơ quan điều tra không xác định số lượng ma túy, loại ma túy mà Đ đã mua của Đ nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Nông Thái Đ, Lương Đức Minh, Trần Minh Tường.
- Trềnh Xú K là người đã 03 lần mua ma túy của Lý Vĩnh Đ để sử dụng, mỗi lần mua 500.000đ vào khoảng tháng 5/2021, tuy nhiên Cơ quan điều tra không xác định được số lượng ma túy và loại ma túy mà Trềnh Xú K đã mua nên không đủ cơ sở để xử lý K.
- Theo lời khai của Đ, Đ đã liên lạc mua khoảng 130g ma túy đá vào ngày 12/6/2021, Hiếu đã chuyển ma túy đá cho Đ qua nhà xe Thành Bưởi chi nhánh tại huyện Đ, Đ đã nhận số ma túy này vào ngày 13/6/2021 về nhà trọ cất giấu và lấy một phần mang đi bán cho Đ, Cơ quan Công an đã phát hiện, thu giữ số ma túy mà Đ đã mua của Hiếu nêu trên. Do Đ cung cấp thông tin về đối tượng Hiếu không đầy đủ nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.
Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy các bao gói sau giám định:
- 02 (hai) phong bì có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Dung, Nguyễn Văn Chiến, Mai Thế Thắng và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng. Bao gồm:
+ Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định;
+ Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại: M1: 9,4247g; M2: 22,0696g; M3: 97,5754g.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước các vật chứng sau:
- 01 (một) phong bì niêm phong, có dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn Anh, Lỹ Vĩnh Đ, có dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Lâm Đồng, bên trong có 01 (một) điện thoại hiệu Iphone màu đen, màn hình cảm ứng, IMEI1: 357226096353057, IMEI2: 357226096048251, MEID: 35722609635305, có gắn sim số 0777626696.
- 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen, có in dòng chữ “POCKET SCALE”. Đ sử dụng chiếc cân này để cân, phân chia ma túy.
- 01 (một) phòng bì niêm phong, có dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Thị Minh N, Nguyễn Thành Lộc, có dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Lâm Đồng, bên trong có đựng 01 (một) điện thoại hiệu Iphone màu đen, màn hình cảm ứng, IMEI 359179072638520, MEID: 35917907263852, có gắn sim số 0776373830.
- 01 (một) phong bì niêm phong, có chữ ký ghi họ tên Nông Thái Đ, Nguyễn Tiến Đ và có dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Lâm Đồng, bên trong có dựng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng, màn hình cảm ứng đã bị nứt, có gắn sim số 0826455826.
Đối với 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát: 51F3-8648 và (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0919816, mang tên Đào Minh Vũ, chưa xác minh được chủ sở hữu nên giao cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng tiếp tục xử lý theo quy định.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đinh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lý Vĩnh Đ, Nguyễn Thị Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lý Vĩnh Đ 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ Ny 15/6/2021.
Phạt bổ sung bị cáo Lỹ Vĩnh Đ 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ Ny 15/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy các bao gói sau giám định:
- 02 (hai) phong bì có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Dung, Nguyễn Văn Chiến, Mai Thế Thắng và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng. Bao gồm:
+ Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định;
+ Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại: M1: 9,4247g; M2: 22,0696g; M3: 97,5754g.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước các vật chứng sau:
- 01 (một) phong bì niêm phong, có dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn Anh, Lỹ Vĩnh Đ, có dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Lâm Đồng, bên trong có 01 (một) điện thoại hiệu Iphone màu đen, màn hình cảm ứng, IMEI1: 357226096353057, IMEI2: 357226096048251, MEID: 35722609635305, có gắn sim số 0777626696.
- 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen, có in dòng chữ “POCKET SCALE”. Đ sử dụng chiếc cân này để cân, phân chia ma túy.
- 01 (một) phòng bì niêm phong, có dán giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Thị Minh N, Nguyễn Thành Lộc, có dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Lâm Đồng, bên trong có đựng 01 (một) điện thoại hiệu Iphone màu đen, màn hình cảm ứng, IMEI 359179072638520, MEID: 35917907263852, có gắn sim số 0776373830.
- 01 (một) phong bì niêm phong, có chữ ký ghi họ tên Nông Thái Đ, Nguyễn Tiến Đ và có dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Lâm Đồng, bên trong có dựng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng, màn hình cảm ứng đã bị nứt, có gắn sim số 0826455826.
Giao cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng: 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát: 51F3-8648 và (một) đăng ký mô tô, xe máy số 0919816, mang tên Đào Minh Vũ, tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Lý Vĩnh Đ, Nguyễn Thị Minh N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ Ny tuyên án hôm nay, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật tố tụng. Người liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSNDCC tại Tp HCM (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng PV06 CA Lâm Đồng (01); - Cơ quan CSĐT CA Lâm Đồng (02); - Cơ quan THAHS CA Lâm Đồng (02); - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - Trại tạm giam (04); - Bị cáo (02); - Người bào chữa (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Lưu Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Hoài |