vanban.org

Bản án 22/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí D (Chiêu) phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Chống người thi hành công vụ».

Xử phạt bị cáo Huỳnh Chí D (Chiêu) 03 (ba) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và 02 (hai) năm tù về tội «Chống người thi hành công vụ». Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí D (Chiêu) phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Chống người thi hành công vụ» - phạm tội tàng…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí D (Chiêu) phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Chống người thi hành công vụ».
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày: 07/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Xuân Đào.

Ông Nguyễn Thái Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Chí D (tên thường gọi là Chiêu); Sinh ngày: 09/6/1987; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 184 đường CCNH, Phường L, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh L và bà: Trần Ngọc C; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 19/9/2021.

Nhân thân:

- Ngày 06/3/2012, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội «Cướp giật tài sản» (Bản án số: 21/2012/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2014 và đã thi hành xong án phí (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 170/GCN của Trại giam An Phước và Công văn trả lời xác minh số: 90/CCTHADS ngày 09/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Ngày 13/4/2015, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 67/2015/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2016 và đã thi hành xong án phí (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 361/GCN của Trại giam Long Hòa và Công văn trả lời xác minh số: 403/CCTHADS ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Thiện H; Sinh năm: 1985; Trú tại: 27G đường LCH, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

2. Ông Đỗ Minh H1; Sinh năm: 1970; Trú tại: 185/77 đường BH, Phường M, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

3. Bà Trần Ngọc C; Sinh năm: 1955; Trú tại: 184 đường CCNH, Phường L, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

4. Bà Huỳnh Kim Y; Sinh năm: 1990; Trú tại: 184 đường CCNH, Phường L, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

5. Ông Võ Tấn L; Sinh năm: 1995; Trú tại: 116 đường VĐ, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Chi thi ̣ so ̂́: 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính

̉ phủ ve ̂̀ giãn cách xã ho ̣ i trên toàn đi ̣a bàn Thành pho ̂́ Hồ Chí Minh. Vào lúc 16 giờ ngày 19/9/2021, tổ công tác thuộc Công an Phường 13, Quận 6 gồm các ông Trần Thiện H (cảnh sát khu vực), Đỗ Minh H1 (bảo vệ dân phố) thi hành nhiệm vụ kiểm soát phòng chống tội phạm và kiểm soát phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn Phường 13, Quận 6 (theo Kế hoạch số: 996/KH-CAP ngày 13/9/2021 của Công an Phường 13, Quận 6). Khi tuần tra đến bên hông nhà số 114 đường BH, Phường M, Quận F thì phát hiện Huỳnh Chí D đang ngồi trên xe gắn máy biển số 59M1-191.88 (nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen xám bạc) có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính, nhưng D không chấp hành mà lùi xe định bỏ chạy thì bị ông H1 giữ lại. Sau một hồi giằng co, D bị các ông H, Hùng khống chế. Lúc này, D dùng tay trái móc con dao từ trong túi quần phía sau ra, rồi chuyển dao qua cầm trên tay phải đâm liên tục về phía các ông H1, H làm các ông H1, H bị thương buộc phải buông D ra. D liền bỏ chạy đến trước nhà số F43 Cư xá Phú Lâm B, Phường 13, Quận 6 thì bị Công an Phường 13, Quận 6 đuổi theo bắt giữ. Qua kiểm tra, đã thu giữ trong túi đeo trước ngực của D 02 gói nylon chứa tinh thể không màu và 03 gói chứa bột màu trắng (D khai là ma túy đá và Heroine), nên đã giao D cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Chí D khai: Do nghiện ma túy (loại ma túy đá và Heroine), nên khoảng 16 giờ ngày 19/9/2021, D điều khiển xe gắn máy biển số 59M1-191.88 đến khu vực cầu Chà Và, Quận 8 gặp một người thanh niên tên Luân (không rõ lai lịch) mua 02 gói ma túy đá và 03 gói Heroine để sử dụng. Đến 16 giờ 45 phút cùng ngày, D điều khiển xe chạy đến bên hông nhà số 114 đường Bà Hom định lấy ma túy ra sử dụng thì bị Công an Phường 13, Quận 6 yêu cầu kiểm tra. Do có cất giữ ma túy trong người, D không chấp hành mà lùi xe định bỏ chạy thì bị các ông Đỗ Minh H1, Trần Thiện H khống chế giữ lại nên D đã dùng dao (loại dao xếp, dài khoảng 20cm, có 04 lưỡi bằng kim loại, cán nhựa màu đỏ) gây thương tích cho các ông H1, H như nêu trên.

Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 19 tháng 9 năm 2021 của Trạm y tế Phường 13, Quận 6, Huỳnh Chí D dương tính với ma túy (chất dạng Amphetamine).

Tại Kết luận giám định số: 5140/KLGĐ-MT ngày 21 tháng 9 năm 2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Ngô Tiến A (người chứng kiến), Huỳnh Chí D và hình dấu Công an Phường 13, Quận 6, bên trong có 01 hộp kim loại màu vàng đựng 01 gói nylon chứa:

- Tinh thể không màu trong 02 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2122g (không phẩy hai một hai hai gam), loại Methamphetamine.

- Bột màu trắng trong 03 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3249g (không phẩy ba hai bốn chín gam), loại Heroine.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 682/TgT.21 ngày 06 tháng 10 năm 2021, Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định pháp y thương tích đối với ông Đỗ Minh H1 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:

+ Một sẹo vùng mặt trước tai trái kích thước 2,2x0,1cm.

+ Một vết tăng sắc tố vùng vành tai trái kích thước 0,5x0,05cm.

+ Hai sẹo vành tai trái kích thước lần lượt là 0,6x0,1cm; 0,8x0,1cm.

+ Tình trạng ổn định.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 05%.

3. Kết luận khác:

- Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

- Con dao dạng dao xếp, dài khoảng 20cm, có 04 lưỡi bằng kim loại, cán được ốp nhựa màu đỏ (do Cơ quan điều tra Công an Quận 6 cung cấp) có thể gây ra các thương tích trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 684/TgT.21 ngày 06 tháng 10 năm 2021, Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định pháp y thương tích đối với ông Trần Thiện H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:

+ Một sẹo bả vai trái kích thước 1,4x0,1cm, ổn định.

+ Một vết tăng giảm sắc tố lòng bàn tay phải kích thước 1,7x0,1cm.

+ Các vết xước da nông còn mày ở:

. Lòng bàn tay phải kích thước 0,3x0,05cm và 0,7x0,05cm.

. Ngón 2 tay phải kích thước 0,8x0,1cm.

+ Tình trạng ổn định.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03%.

3. Kết luận khác:

- Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

- Con dao dạng dao xếp, dài khoảng 20cm, có 04 lưỡi bằng kim loại, cán được ốp nhựa màu đỏ (do Cơ quan điều tra Công an Quận 6 cung cấp) có thể gây ra các thương tích trên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 170/QĐ-ĐTTH); khởi tố bị can đối với Huỳnh Chí D về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và tội «Chống người thi hành công vụ» (Quyết định số: 78/QĐ-ĐTTH).

Đối với người thanh niên tên Luân bán ma túy cho Huỳnh Chí D ở khu vực cầu Chà Và, Quận 8, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.

Tại Cáo trạng số: 14/CT-VKS-Q6 ngày 24 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Chí D về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và tội «Chống người thi hành công vụ» theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Huỳnh Chí D khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Chí D như bản cáo trạng, đồng thời đại diện Viện kiểm sát xác định hành vi phạm tội của bị cáo không thuộc trường hợp «Phạm tội có tính chất côn đồ» theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, do đó bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Huỳnh Chí D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội «Chống người thi hành công vụ» theo điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Các ông Đỗ Minh H1, Trần Thiện H không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói bên ngoài có ghi vụ số: 5140/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và Điều tra viên Lê Quốc Thanh. Bên trong có 01 hộp kim loại màu vàng đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1940 gam và bột màu trắng có tổng khối lượng 0,2508 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi xách màu xanh, kích thước 20x10cm (phía trước có chữ Honda); 02 vật hình tròn bằng gỗ đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu Công an Phường 13, Quận 6; 01 con dao xếp màu đỏ dài khoảng 20cm.

Trả lại bị cáo Huỳnh Chí D số tiền 700.000 đồng.

Đối với 01 USB hiệu Axxen (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Huỳnh Chí D dùng dao gây thương tích cho các ông Đỗ Minh H1, Trần Thiện H bên hông nhà số 114 đường BH, Phường M, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19/9/2021 - BL156) đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Huỳnh Chí D nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Huỳnh Chí D tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera của Công an Quận 6; Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/9/2021 (kèm bản ảnh); Kết luận giám định số: 5140/KLGĐ-MT ngày 21/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 682/TgT.21 và số: 684/TgT.21 cùng ngày 06/10/2021 của Trung tâm Pháp y; lời khai của các ông Đỗ Minh H1, Trần Thiện H và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Chí D đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và tội «Chống người thi hành công vụ». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249, Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp (nhất là trong khoảng thời gian từ ngày 23/8/2021 đến hết ngày 30/9/2021), Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội và các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo tinh thần Chỉ thị số: 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên toàn địa bàn thành phố với phương châm áp dụng triệt để, nghiêm ngặt, quyết liệt, hiệu quả từng biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, đồng thời kêu gọi toàn thể người dân thành phố phát huy sự đồng lòng, chung sức trong phòng, chống dịch theo nguyên tắc «ai ở đâu thì ở đó» để đưa thành phố trở lại trạng thái bình thường mới. Nhận thức và hiểu được điều đó, nhưng do xem thường kỷ cương pháp luật nhà nước, xem thường người thi hành công vụ, bị cáo Huỳnh Chí D đã bất chấp, cố tình điều khiển xe gắn máy ra đường trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội để đi mua ma túy sử dụng. Khi được các ông Trần Thiện H (Công an Phường 13, Quận 6), Đỗ Minh H1 (bảo vệ dân phố) yêu cầu kiểm tra thì bị cáo chẳng những không chấp hành hiệu lệnh mà còn lùi xe định bỏ chạy và sau khi bị các ông H1, H giữ lại, bị cáo đã dùng dao (loại dao xếp, dài khoảng 20cm, có 04 lưỡi bằng kim loại, cán được ốp nhựa màu đỏ) đâm liên tục gây thương tích cho các ông H1, H (cụ thể: ông H1 bị đa vết thương phần mềm ở vùng mặt trước tai trái và vành tai trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%; ông H bị đa vết thương phần mềm ở vùng bả vai trái, lòng bàn tay phải và ngón 2 tay phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý của cơ quan nhà nước nhất là trong giai đoạn thực hiện giãn cách xã hội trên địa bàn thành phố, gây náo loạn cả khu vực, làm ảnh hưởng xấu đến trị an chung và cản trở các ông H1, H thực hiện công vụ của mình mà còn xâm hại đến sức khỏe của các ông H1, H. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Chống người thi hành công vụ» theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, khi bắt giữ bị cáo Huỳnh Chí D, tổ công tác còn thu giữ trong túi đeo trước ngực của bị cáo 02 gói nylon bên trong có 0,2122 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine và 03 gói nylon bên trong có 0,3249 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroine (toàn bộ số ma túy này bị cáo xác nhận là của bị cáo mua và cất giữ nhằm mục đích sử dụng). Căn cứ Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng của 02 chất ma túy (Methamphetamine, Heroine) mà bị cáo Huỳnh Chí D cất giữ nhằm mục đích sử dụng là 0,5371 gam. Hành vi này của bị cáo không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung. Và đối chiếu tổng khối lượng của 02 chất ma túy (Methamphetamine, Heroine) với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì trong trường hợp này tổng khối lượng của 02 chất ma túy trên tương đương với khối lượng Methamphetamine, Heroine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, ngoài hành vi chống người thi hành công vụ nêu trên, bị cáo còn phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này» theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo Huỳnh Chí D là người đã trưởng thành, bị cáo có đủ khả năng nhận thức rõ được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường kỷ cương pháp luật nhà nước, xem thường người thi hành công vụ, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Bản thân bị cáo Huỳnh Chí D có nhân thân xấu, đó là ngày 06/3/2012, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 03 năm tù về tội «Cướp giật tài sản»; ngày 13/4/2015, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Mặc dù lần phạm tội này bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích thì coi như chưa bị kết án, nhưng điều này cũng cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục, bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục phạm tội do cố ý là thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Huỳnh Chí D, Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Việc Viện kiểm sát xác định bị cáo Huỳnh Chí D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo Huỳnh Chí D còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, các ông Đỗ Minh H1, Trần Thiện H vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra, các ông này đều không yêu cầu bồi thường (theo hai Biên bản ghi lời khai cùng ngày 23/12/2021 - BL 48, 58), do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Việc xử lý vật chứng: 01 gói bên ngoài có ghi vụ số: 5140/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và Điều tra viên Lê Quốc Thanh. Bên trong có 01 hộp kim loại màu vàng đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1940 gam và bột màu trắng có tổng khối lượng 0,2508 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi xách màu xanh, kích thước 20x10cm (phía trước có chữ Honda); 02 vật hình tròn bằng gỗ đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu Công an Phường 13, Quận 6; 01 con dao xếp màu đỏ dài khoảng 20cm, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo Huỳnh Chí D. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

(theo hai Phiếu nhập kho vật chứng số: 79/PNK ngày 06 tháng 10 năm 2021; số: 106/PNK ngày 17 tháng 12 năm 2021 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 13/QĐ-VKS-Q6 ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Giấy nộp tiền ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn - Chi nhánh Bắc Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 3 năm 2022 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

Đối với chiếc xe gắn máy biển số 59M1-191.88, số máy JC52E-4031336, số khung RLHJC5213CY026158 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, sơn màu Đen Xám Bạc, dung tích 109) thu giữ của bị cáo Huỳnh Chí D, Cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Huỳnh Ngọc Châu (mẹ bị cáo) nhờ chị bị cáo là bà Huỳnh Kim Y đứng tên chủ xe, nên đã xử lý trả lại cho bà C (theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 13/12/2021 - BL139), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với 01 USB hiệu Axxen (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Huỳnh Chí D dùng dao gây thương tích cho các ông Đỗ Minh H1, Trần Thiện H bên hông nhà số 114 đường BH, Phường M, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19/9/2021 - BL156) đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với hành vi bị cáo Huỳnh Chí D dùng dao gây thương tích cho ông Đỗ Minh H1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 05%, gây thương tích cho Trần Thiện H với tỷ lệ tổn thương cơ thể 03%, nhưng các ông H1, H không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo về hành vi này (theo hai Đơn không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích cùng ngày 23/12/2021 - BL51A, 60A), do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với người thanh niên tên Luân bán ma túy cho bị cáo Huỳnh Chí D, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Bị cáo Huỳnh Chí D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí D (Chiêu) phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Chống người thi hành công vụ».

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Chí D (Chiêu) 03 (ba) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và 02 (hai) năm tù về tội «Chống người thi hành công vụ». Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2021.

- Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói bên ngoài có ghi vụ số: 5140/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Xuân S và Điều tra viên Lê Quốc Thanh. Bên trong có 01 (một) hộp kim loại màu vàng đựng 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1940 (không phẩy một chín bốn không) gam và bột màu trắng có tổng khối lượng 0,2508 (không phẩy hai năm không tám) gam; 01 (một) túi xách màu xanh, kích thước 20x10cm (phía trước có chữ Honda); 02 (hai) vật hình tròn bằng gỗ đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu Công an Phường 13, Quận 6; 01 (một) con dao xếp màu đỏ dài khoảng 20cm.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo Huỳnh Chí D 700.000 (bảy trăm ngàn) đồng.

(theo Giấy nộp tiền ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn - Chi nhánh Bắc Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 3 năm 2022 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Huỳnh Chí D phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Huỳnh Chí D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ