- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Trần Văn H - phạm tội Vi phạm Quy định về tham gia GT đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày 23 tháng 5 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Duy Thuần
- Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Phú Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh ngày 19/10/1994; nơi sinh và cư trú: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn G, sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1976; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Ông Kim Văn B, sinh năm 1947 (đã chết)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Kim Thị K, sinh năm 1950 (vắng mặt).
2. Ông Kim Văn A, sinh năm 1972 (có mặt).
3. Bà Kim Thị C, sinh năm 1974 (vắng mặt).
4. Ông Kim Hoàn D, sinh năm 1977 (vắng mặt).
5. Bà Kim Thị E, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Đều cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Chị Kim Thị Thanh Y, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà K, bà C, ông D, bà E, chị Y: Ông Kim Văn A, sinh năm 1972 (theo văn bản ủy quyền ngày 06/12/2021) (cómặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P.
Địa chỉ: Số nhà 30, TT Viện khoa học nông nghiệp, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn P - Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Vũ Văn X, sinh năm 1998.
Nơi cư trú: Thôn 4, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 27/11/2021, Trần Văn H, có giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 360160005973, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Nam Định cấp ngày 13/7/2021, là lái xe hợp đồng của Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-429.XX, tải trọng hàng hóa 8000kg, chở 405 thùng sơn nhãn hiệu Jotun Paints từ thành phố Hà Nội đi giao hàng cho một số đại lý tại xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đi có anh Vũ Văn X là phụ xe đi cùng và ngồi ở ghế phụ bên phải. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-429.XX đi vào khu vực đường đôi và đi theo hướng từ cổng chào huyện Y thuộc xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc về thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đi với tốc độ khoảng 60-65 km/h. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đoạn đường có cắm biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, mặt đường có gờ giảm tốc và vạch kẻ đường cho người đi bộ, có lối quay đầu xe ở giữa đường đôi. H quan sát thấy phía trước cùng chiều có ông Kim Văn B điều khiển xe đạp đi phía trước và đang rẽ trái để sang đường. Do H điều khiển xe ô tô đi với tốc độ nhanh, không kịp phanh, nên xe ô tô do H điều khiển đâm vào xe đạp do ông B điều khiển, làm ông B bị ngã ra đường. Thấy vậy, H đánh lái sang trái rồi dừng lại, xuống xe cùng mọi người đưa ông B đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Hậu quả, do thương tích nặng đến chiều cùng ngày ông B đã tử vong, hai xe hư hỏng nhẹ. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám phương tiện theo quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đo nồng độ cồn của Trần Văn H (theo phiếu đo hồi 09 giờ 21 phút ngày 27/11/2021) là 0,00mg/L.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 121/TT ngày 01/12/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Nguyên nhân chết của ông Kim Văn B là sốc đa chấn thương không hồi phục.
Tại kết luận giám định số 3162/KLGĐ và kết luận giám định số 3238/KLGĐ đều ngày 04/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Không phát hiện thành phần chất ma túy (Morphine, MDMA, Methamphetamine, Delta-9-tetrahydrocanabinol và Ketamine) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là máu thu của tử thi Kim Văn B được niêm phong trong lọ nhựa gửi giám định” và “Không phát hiện cồn (Ethanol) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là máu thu của tử thi Kim Văn B được niêm phong trong lọ nhựa gửi giám định”. Hoàn lại đối tượng sau giám định theo kết luận số 3162/KLGĐ là 02ml mẫu và toàn bộ bao gói; hoàn lại đối tượng sau giám định theo kết luận số 3238/KLGĐ là 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói.
Tại kết luận giám định số 3257/KLGĐ ngày 16/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận: “Không phát hiện thành phần chất ma túy (Morphine, MDMA, Methamphetamine, Delta-9-tetrahydrocanabinol và Ketamine) trong mẫu chất lỏng màu vàng nhạt ghi là mẫu nước tiểu thu của Trần Văn H”. Hoàn lại đối tượng sau giám định theo kết luận số 3257/KLGĐ là 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói.
Tại kết luận giám định số 3264/KLGĐ ngày 16/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận:
“Trích xuất được 01 tệp tin video định dạng *.mp4, kích thước: 11,8 MB (12.394.533 bytes) lưu trong thẻ nhớ Micro SD gửi giám định, thời gian từ 08 giờ 08 phút 00 giây đến 08 giờ 08 phút 12 giây ngày 27/11/2021 (theo thời gian hiển thị trên video). Sao lưu tệp tin video trích xuất được vào 01 đĩa DVD.
Chụp được 05 ảnh mô tả diễn biến hành động của người và phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông xuất hiện trong tệp tin video trích xuất được nêu trên. Toàn bộ ảnh chụp được in và thuyết minh trong Bản ảnh giám định.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C-429.XX trên thùng xe có 405 thùng sơn nhãn hiệu Jotun Paints, 01 xe đạp nữ không rõ nhãn hiệu, màu sơn xanh, mẫu nước tiểu của Trần Văn H và 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã cùng Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Kim Văn B số tiền 180.000.000đồng, đại diện gia đình bị hại Kim Văn B đã nhận đủ số tiền trên. Sau khi nhận tiền, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thêm khoản tiền gì khác, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 06/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng; về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Trần Văn H hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với mẫu trả của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định theo các Bản kết luận số 3162, 3238, 3257; trả lại cho Trần Văn H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn H; xác nhận ngày 04/12/2021 và ngày 25/01/2022, cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P do ông Phạm Văn P làm giám đốc 405 thùng sơn và xe ô tô biển kiểm soát 29C-429.XX. Ngày 18/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã trả lại 01 xe đạp nữ không rõ nhãn hiệu, màu sơn xanh cho ông Kim Văn A. Sau khi nhận lại tài sản ông P, ông A không có yêu cầu, đề nghị gì; lưu giữ trong hồ sơ 01 đĩa DVD.
Bị cáo Trần Văn H không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Trần Văn H tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 27/11/2021, Trần Văn H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C- 429.XX đi theo hướng từ cổng chào huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thuộc xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc về thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đi đến xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc chở sơn quá trọng tải quy định để giao cho các đại lý. Khi đi đến đoạn đường giao nhau với đường không ưu tiên thuộc thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, H điều khiển xe đi với tốc độ 60-65km/h. Do không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên xe ô tô của H điều khiển đã đâm vào xe đạp do ông Kim Văn B điều khiển đi phía trước và đang rẽ sang đường. Hậu quả: Ông Biên bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, đến chiều cùng ngày thì tử vong. Xe ô tô và xe đạp bị hư hỏng.
Hành vi của Trần Văn H đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12; khoản 3 Điều 24; khoản 1 Điều 28 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 1 Điều 5 thông tư số 31/2019/TT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe: “1. Người lái xe,.. phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình…”.
Khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau: “Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:
…
3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên…”
Khoản 1 Điều 28 Luật Giao thông đường bộ quy định về tải trọng: “ Người điều khiển phương tiện phải tuân thủ các quy định về tải trọng,…”
Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ quy định:
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người…”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác, vì vậy cần phải xử phạt nghiêm.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Trần Văn H chưa có tiền sự, tiền án. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã cùng Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P thăm hỏi, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; bị hại cũng có một phần lỗi là khi tham gia giao thông chuyển hướng xe không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, ông Kim Văn A là người đại diện hợp pháp của bị hại và là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin miễm truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng tự cải tạo. Bản thân bị hại cũng có một phần lỗi nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm.
. Trong vụ án này, ông Kim Văn B khi tham gia giao thông chuyển hướng xe không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ dẫn đến xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào xe đạp do ông B điều khiển làm ông B bị ngã ra đường thương tích nặng, chiều cùng ngày đã tử vong. Hành vi đó của ông B đã vi phạm qui định tại khoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định về chuyển hướng xe.
Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
2. Trong khi chuyển hướng,… chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.
Do vậy, tai nạn trên xảy ra có một phần lỗi thuộc về của ông B khi chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn nên dẫn đến tai nạn. Do ông B đã chết nên không đề cập xử lý.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sinh sống bằng nghề lái xe cho nên cần thiết phải áp dụng biện pháp cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã cùng Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Kim Văn B số tiền 180.000.000đồng. Đại diện gia đình ông Kim Văn B đã nhận đủ số tiền trên. Nay ông Kim Văn A là người đại diện hợp pháp của bị hại và là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 405 thùng sơn nhãn hiệu Jotun Paints và 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C - 429.XX. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P do ông Phạm Văn P là giám đốc. Ngày 04/12/2021 và ngày 25/01/2022, cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty 405 thùng sơn và xe ô tô trên. Sau khi nhận lại tài sản, công ty không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với 01 bản sao giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc xe ô tô biển kiểm soát 29C - 429.XX và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 29C - 429.XX đều là bản sao có công chứng nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn H là của bị cáo H nên trả lại cho H nhưng tạm giữ bảo đảm thi hành án.
Đối với 01 xe đạp nữ không rõ nhãn hiệu, màu sơn xanh. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Kim Văn B nên ngày 18/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã trả lại xe cho ông Kim Văn A là người đại diện hợp pháp của bị hại và là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại. Sau khi nhận lại xe, ông A không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với mẫu trả của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định theo các kết luận giám định số 3162, 3238, 3257 cần tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 đĩa DVD và 01 bản ảnh kèm theo kết luận giám định số 3264 là hình ảnh ghi lại trên camera hành trình là hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt Trần Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Cấm bị cáo Trần Văn H hành nghề lái xe trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ đối với mẫu trả của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định theo các kết luận giám định số 3162, 3238.
Tịch thu tiêu huỷ đối với mẫu trả của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định theo kết luận giám định số 3257 (01 chai nhựa niêm phong).
Trả lại cho Trần Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C số 360160005973 mang tên Trần Văn H nhưng tạm giữ bảo đảm thi hành án.
(đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2022).
Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc xe ô tô biển kiểm soát 29C - 429.XX và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 29C - 429.XX đều là bản sao có công chứng.
Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD và 01 bản ảnh kèm theo kết luận giám định số 3264 là hình ảnh ghi lại trên camera hành trình là hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn.
Xác nhận ngày 04/12/2021 và ngày 25/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã trả lại cho Công ty TNHH Vận tải Quốc tế P 405 thùng sơn và xe ô tô biển kiểm soát 29C - 429.XX.
Xác nhận ngày 18/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã trả lại cho ông Kim Văn A là người đại diện hợp pháp của bị hại và là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe đạp nữ không rõ nhãn hiệu, màu sơn xanh.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về phần bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại; - Nguyên đơn dân sự; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc - VKSND huyện Yên Lạc; - Công an huyện Yên Lạc; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Yên Lạc; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |