vanban.org

Bản án 22/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn H1 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày 19/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Quốc Minh

2. Ông Nguyễn Văn Thuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lương Dương Tùng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện

Phú Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

17/2022/TLST-HS ngày 08/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

19/2022/QĐXXST-HS ngày 04/5/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Văn H1, sinh năm 1968.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm K, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10.

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Dương Mạnh C (đã chết) và bà Trần Thị L (đã chết).

Có vợ là: Ma Thị T, sinh năm 1973, có 02 con, con lớn sinh năm 1992,

con nhỏ sinh năm 1994.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2021, hiện đang bị tạm giam

tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương.

(Có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến: Anh Lương Ngọc H, sinh năm 1982, địa chỉ: xóm G,

xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 29/12/2021, tại khu vực xóm T, xã Y, huyện Phú

Lương, Công an xã Y, huyện Phú Lương phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Dương Văn H1 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại đây, H1 khai 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng bi thu giữ là ma túy vừa mua của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng về để sử dụng cho bản thân, đang trên đường về thì bị Công an xã Y kiểm tra, Dương Văn H1 đã tự giao nộp. Công an xã Y lập biên bản, niêm phong vật chứng trong phong bì ký hiệu H và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương để giải quyết theo thẩm quyền.

Cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Dương Văn

H1 có khối lượng là 0,210 gam sau đó niêm phong toàn bộ trong bì niêm phong ký hiệu A1 để giám định.

Tại bản kết luận giám định số 126/KL-KTHS ngày 06/01/2022 của Phòng

kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Dương Văn H1 là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,210 gam.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Dương Văn H1 khai bản thân nghiện

ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 29/12/2021, H1 từ nhà ra đường Quốc lộ 3, đi xe buýt đi đến khu vực xóm T, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân.Tại đây, H1 gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy, được bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh với giá 200.000 đồng. H1 cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi ra điểm dừng xe buýt bắt xe để về nhà. Khi H1 đang đứng chờ xe buýt thì bị Tổ công tác Công an xã Y phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên. Số tiền mua ma túy do H1 lao động mà có.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,193

gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu H và các vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Dương Văn H1. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng chờ xử lý.

Bản Cáo trạng số 22/CT-VKSPL ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Viện

kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo Dương Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như cáo

trạng đã truy tố.

Vị Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội

đồng xét xử.

Tuyên bố: bị cáo Dương Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều

38 BLHS, xử phạt bị cáo Dương Văn H1 mức án từ 18 (mười tám) đến 24 (hai

mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt

tạm giữ, tạm giam.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tịch

thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có

0,193 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm

phong ký hiệu A2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu H và các vỏ giấy

gói thu giữ ban đầu của Dương Văn H1.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Tại phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm, xin Hội

đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia

đình và xã hội.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn

diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Phú Lương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát

viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,

thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,

bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của

các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp

pháp.

Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn

bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ

quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để

khẳng định: Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 29/12/2021, H1 từ nhà ra đường Quốc lộ 3, đi xe buýt đi đến khu vực xóm T, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, H1 gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy, được bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh với giá 200.000 đồng. H1 cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi ra điểm dừng xe buýt bắt xe để về nhà. Khi H1 đang đứng chờ xe buýt thì bị Tổ công tác Công an xã Y phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng, được niêm phong theo quy định ký hiệu H.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương khám

xét chỗ ở của Dương Văn H1 không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Dương Văn

H1 khi bắt quả tang có khối lượng là 0,210 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Kết luận giám định số 126/KL-KTHS ngày 06/01/2022 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Thái nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine có khối lượng gửi giám định là 0,210 gam. Hoàn lại 0,193 gam mẫu A1 còn lại sau giám định.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a. …

c. Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Bản Cáo trạng số 22/CT-VKSPL ngày 07/4/2022 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Phú Lương đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên để xét xử là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy

đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống ma túy của toàn xã hội, xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị

cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và

tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên bị cáo được

hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo

không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất của vụ án, các tình

tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải có mức án

tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời

gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Bản thân bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nếu

áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo sẽ không có tính khả thi. Do vậy, Hội

đồng xét xử không áp hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS,

cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn

lại 0,193 gam mẫu A1 và vỏ gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2,

bên ngoài ghi: Bên trong có vỏ bì ký hiệu H và vỏ giấy gói.

Về án phí: Cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định

của pháp luật.

Trong vụ án còn có người đàn ông đã bán ma túy cho H1 tại khu vực

xóm T, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, do H1 không biết rõ họ tên,

địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương

tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được

chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ

luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự

Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính

ngày 29/12/2021.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi

hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng

hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn lại 0,193 gam mẫu A1 và vỏ gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Bên trong có vỏ bì ký hiệu H và vỏ giấy gói.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài

sản số 35/2022 ngày 14/4/2022 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục THAHS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND Phú Lương;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- Chi cục THADS huyện Phú Lương;

- Công an Phú Lương;

- TAND tỉnh Thái Nguyên;

- Sở Tư pháp Thái Nguyên;

- Cơ quan THAHS- Công an tỉnh TN

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ THAHS;

Hoàng Văn Giang

- Lưu hồ sơ vụ án, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Giang

Cỡ chữ