- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn S "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S (Tên gọi khác Hoàng Chàn L) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS - ST Ngày 23/11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dƣơng Thanh Trầm
Bà Ma Thị Thầm
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Triệu Xuân Trìu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2022/TLST-HS, ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Văn S (Tên gọi khác Hoàng Chàn L) sinh ngày xx tháng xx năm
19xx tại huyện Ng, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hoàng Thồng Khvà bà Triệu Mùi D (tên gọi khác Hoàng Mùi V, Hoàng Thị V) ; vợ là Triệu Mùi M (đã ly hôn). Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án: 01. Ngày 11/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 03/11/2020 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng tại Quyết định số xxx về hành vi đánh bạc, bị can đã nộp phạt ngày 03/11/2020.
Ngày 12/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xử phạt 24 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hoàng Thồng Kh, sinh năm 19xx - Trú tại Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
Ông Hoàng Chàn L, sinh năm 19xx - Trú tại Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ngƣời làm chứng:
Hoàng Thị M, sinh ngày 13/6/20xx - Trú tại Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 40 phút ngày 20/6/2022, Tổ công tác Công an huyện Pác Nặm, tuần tra tại thôn Khi, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện Hoàng Văn S, trú tại thôn N, xã B đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97AA - 003.xxcó biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Kiểm tra phát hiện tại túi quần đằng trước bên phải hai gói được gói bằng giấy, loại giấy vỏ bao thuốc lá một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã niêm phong vào phong bì ký hiệu S và tạm giữ cùng một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97 AA-003.xxđể tiến hành điều tra theo quy định.
Tại biên bản cân xác định khối lượng chất ma tuý hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/6/2022 xác định: Khối lượng chất bột màu trắng trong hai gói được niêm phong tại phong bì ký hiệu S là 0,03g (không phẩy không ba gam). Sau khi cân xác định khối lượng đã niêm phong vào phong bì ký hiệu S2 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 124 ngày 30/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu S2 là ma túy loại heroine, có khối lượng 0,03 gam.
Bị can Hoàng Văn S khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 20/6/2022, San điều khiển xe mô tô của ông Hoàng Chàn L, sinh năm 1981, trú tại thôn N, xã B đi đến khu vực Trung tâm Y tế huyện B, tỉnh Bắc Kạn hỏi mua được hai gói ma túy loại heroine trị giá 200.000đ của một người đàn ông không quen biết với mục đích để sử dụng cho bản thân và để ở túi quần. Sau khi mua được ma túy, San điều khiển xe của ông L quay về nhà, khi đến thôn Kh, thuộc xã B, huyện P thì bị Công an huyện Pác Nặm kiểm tra phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang. Lời khai của bị can hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Kết quả điều tra vụ án xác định: Ngày 11/11/2014 bị can Hoàng Văn S bị Tòa án nhân dân huyện P xử phạt 07 năm tù tại Bản án số 12 về tội mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 06/02/2020, bị can mới chấp hành xong các Quyết định của Bản án nhưng chưa được xóa án tích; ngày 03/11/2020 bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng tại Quyết định số xxx về hành vi đánh bạc, bị can đã nộp phạt ngày 03/11/2020; ngày 20/10/2021 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại xã B, huyện P, bị Tòa án nhân dân huyện P xử phạt 24 tháng tù tại bản án số xx ngày 12/7/2022.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSPN ngày 12/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử bị cáo Hoàng Văn S về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng Điều 38, Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn S từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Hồi 13 giờ 40 phút ngày 20/6/2022 tại thôn Kh, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Văn S đã có hành vi tàng trữ 0,03 gam chất ma túy, loại heroine với mục đích để sử dụng. Mặc dù lần tàng trữ chất ma túy này của Hoàng Văn S dưới 0,1 gam nhưng trước đó Hoàng Văn S đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa được xóa án tích, do vậy hành vi tàng trữ 0,03 gam chất ma túy này của Hoàng Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
…………………………………………………
a, Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
………………………………………………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự , mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội.
.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo có một tiền án, ngày 11/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tiền sự, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
. Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng của vụ án gồm:
Một phong bì niêm phong ký hiệu T129 bên trong chứa mẫu ma túy hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Một phong bì niêm phong ký hiệu S3 bên trong chứa giấy gói và vỏ phong bì cũ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Một chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme gắn hai thẻ sim là của ông Hoàng Thồng Kh, sinh năm 1955, trú tại Thôn N, xã B, huyện P cho bị cáo mượn không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đã trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.
Một xe mô tô nhãn hiệu DETECH biển kiểm soát 97AA -003.xxlà của ông Hoàng Chàn L, sinh năm 1981, trú tại Thôn N, xã B, huyện P cho bị cáo mượn. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe của ông L để đi mua chất ma túy thì ông L không biết, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đã trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Ông Hoàng Chàn L, sinh năm 1981, trú tại Thôn N, xã B, huyện P là người sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH biển kiểm soát 97AA -003.xxnhưng đã để bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua chất ma túy, tuy nhiên việc bị cáo sử dụng chiếc xe của ông L để đi mua chất ma túy thì ông L không biết, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm không xử lý ông L là có căn cứ.
Chị Hoàng Thị M là người trực tiếp cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH biển kiểm soát 97AA -003.xxcủa ông L để bị cáo đi mua chất ma túy, tuy nhiên việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua chất ma túy thì chị M không biết, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm không xử lý đối với chị M là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S (Tên gọi khác Hoàng Chàn L) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S (Tên gọi khác Hoàng Chàn L) 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2022.
[3]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
Một phong bì niêm phong ký hiệu T129 bên trong chứa mẫu ma túy hoàn trả sau giám định.
Một phong bì niêm phong ký hiệu S3 bên trong chứa giấy gói và vỏ phong bì cũ.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).
[4]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[5]. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhân:
| - VKSND huyện Pác Nặm. (01b) - TAND tỉnh Bắc Kạn. (01b) - VKSND tỉnh Bắc Kạn.(01b) - Bộ phận hồ sơ CA huyện Pác Nặm. (03b) - Chi cục THADS huyện Pác Nặm. (01b) - Sở Tư pháp. (01b) - Bị cáo. (01b) - Người có QLNVLQ (02b) - Lưu hs; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hà Thanh Tuấn |