- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Văn Phước - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: bị cáo Tống Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày 29-03-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và ông Nguyễn Văn Thiện.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Dương Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2022, đối với bị cáo:
Tống Văn P; tên gọi khác: Tống Khắc P; sinh năm: 1973; tại: thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn 4, xã Q, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Khắc D và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); có vợ là Bùi Thị K và có 01 con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: tại bản án hình sự sơ thẩm số 14 ngày 20/03/1992 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 238 ngày 04/12/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 27/03/2003 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 30/06/2004 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2008/HSST ngày 26/09/2008 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 27 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2012/HSST ngày 23/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0013459/QĐ-XPHC ngày 29/11/2019 của Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo số tiền 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/09/2021 đến ngày 08/10/2021 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người làm chứng: anh Phạm Văn Q; sinh năm: 1960; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 29/09/2021, tổ công tác của Công an huyện Hà Trung phối hợp cùng Công an xã H làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát an ninh trật tự tại khu vực đoạn đường giao nhau với tuyến quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn N, xã H, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện Tống Văn P đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì P thả từ tay trái xuống mặt đường một gói nilon nhỏ, ngay lập tức tổ công tác phát hiện và thu giữ một gói nilon nhỏ màu trắng, viền đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn, nghi là ma túy. Tại chỗ, P khai nhận gói nhỏ là ma túy vừa mua được để về sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong gói nhỏ và đưa P về trụ sở Công an để làm việc.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, bên trong đựng một túi nilon màu trắng chưa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, nghi là ma túy được niêm phong ký hiệu “Vụ: Tống Văn P”; 01 xe mô tô biển kiểm soát 36F5-073.58, nhãn hiệu HONDA.
Tại Bản kết luận giám định số 3065/PC09 ngày 04/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong kí hiệu “Vụ Tống Văn P” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,848g (một phẩy tám bốn tam gam), loại: Heroine.
Quá trình điều tra, Tống Văn P khai nhận: vào khoảng 12 giờ ngày 29/09/2021, P điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 36F5-073.58 từ nhà ở thôn 4, xã Q, thị xã B đến thị trấn H, huyện H tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu dân cư thuộc tiểu khu T, thị trấn H thì gặp một người đàn ông không quen biết mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang che kín, P hỏi mua 1.700.000 đồng ma túy trắng thì người đàn ông cầm tiền và đưa lại 01 túi nhỏ ma túy, P cầm túi ma túy vừa mua được ở tay trái rồi quay xe đi theo đường cũ. Khi đi đến đoàn đường quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn N, xã H, huyện H thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra, do lo sợ nên P đã thả túi ma túy từ tay trái xuống mặt đường ngay vị trí đang đứng nhưng bị Công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật đưa về trụ sở Công an tiếp tục làm việc.
Cáo trạng số 25/CT-VKSHT ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Tống Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ Điều 249 Bộ luật Hình sự: tuyên bố bị cáo Tống Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Tống Văn P từ 33 tháng tù đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định, đủ cơ sở khẳng định: vào khoảng 12 giờ ngày 29/9/2021, tại đoạn đường quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn N, xã H, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Công an huyện Hà Trung bắt quả tang Tống Văn P đang tàng trữ trái phép một gói ma túy có tổng khối lượng 1,848g (một phẩy tám bốn tám gam), loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo Tống Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Mặt khác, bị cáo còn là đối tượng đã từng nhiều lần bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính, tuy đã hết thời hạn được coi là chưa bị kết án và chưa bị xử lý hành chính nhưng điều đó cũng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần căn cứ tình tiết này để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Tống Văn P, do không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý.
. Về xử lý vật chứng: khối lượng ma túy cơ quan điều tra thu giữ được còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 36F5-073.58 thu giữ của Tống Văn P là tài sản hợp pháp của chị Cao Thị T, sinh năm 1983, trú tại thôn 5, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Chị T đã cho P mượn chiếc xe môtô này nhưng không biết P mượn để sử dụng đi mua ma túy nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho chị T là đúng quy định.
. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Tống Văn P.
1. Về tội danh: bị cáo Tống Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Tống Văn P 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 29/09/2021.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong (đặc điểm của phong bì niêm phong theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/03/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Trung).
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Tống Văn P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung; - Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Văn Nam |