- Tranh chấp gì? án hình sự — "ông Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày: 08- 6- 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Vân
2. Bà Vũ Thị Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên toà: Bà Ma Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2022/TLST-HS ngày 13/5/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HS ngày 27/5/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/4/1988; Nơi
sinh: Đồng Hỷ, Th Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nông Văn H, sinh năm 1959; Con bà: Triệu Thị Đ, sinh năm 1960; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ T trong gia đình; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người làm chứng: Ông Bùi Đức Th, sinh năm 1974 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm MH, xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN.
* Người chứng kiến:
1. Ông Nguyễn Hữu TG, sinh năm 1973 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm VH, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN.
2. Anh Lưu Quang K, sinh năm 1984 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 17/01/2022, tổ công tác Công an huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phối hợp cùng Công an xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN phát hiện hai người đàn ông đang có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiếp cận để yêu cầu kiểm tra đối với hai người trên. Quá trình kiểm tra hai người lần lượt khai nhận họ tên là Nông Văn T và Bùi Đức Th, sinh năm 1974, trú tại xóm MH, xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN. Tiến hành kiểm tra đối với Nông Văn T, T tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên trái mình đang mặc ra 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai là Heroine) giao nộp, phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc số tiền 300.000 đồng, tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Tiến hành kiểm tra đối với Bùi Đức Th không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Hỷ tiến hành
khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn T tại xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN, kết quả: Phát hiện thu giữ tại ngăn tủ gỗ để đồ dùng và quần áo trong phòng ngủ riêng của Nông Văn T 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của
Nông Văn T khi bắt quả tang là 0,333g lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1. Cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của T khi khám xét nơi ở là 0,226g lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A2.
Tại bản Kết luận giám định số: 282/KL-KTHS ngày 25/01/2022 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,333 gam. Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,226 gam.
Qúa trình điều tra Nông Văn T khai nhận: Bản thân nghiện ma túy nên
thường xuyên mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho các con nghiện khác kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ ngày 12/01/2022 đến ngày 17/01/2022 T đã nhiều lần bán Heroine cho Bùi Đức Th, sinh năm 1974, trú tại xóm MH, xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN; cụ thể như sau:
+ Lần 1: Khoảng 16 giờ ngày 12/01/2022 tại khu vực ngã ba đường dân
sinh thuộc xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN, T đã bán cho Bùi Đức Th 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng.
+ Lần 2: Khoảng 15 giờ ngày 14/01/2022 cũng tại khu vực ngã ba đường
dân sinh thuộc xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN, T tiếp tục bán cho Bùi Đức Th 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng.
+ Lần 3: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 17/01/2022, T mang theo 01 gói
Heroine (đươc gói trong mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ) đi bộ một mình ra khu vực ngã ba đường dân sinh thuộc xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN thì gặp Bùi Đức Th, Th hỏi mua Heroine của T với giá 300.000 đồng, T đồng ý lấy tiền của Th cất vào túi quần phía trước đang mặc nhưng chưa kịp lấy Heroine để đưa cho Th bị tổ công tác của Công an huyện Đồng Hỷ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét, T
khai: Khoảng 20 giờ ngày 11/01/2022, T một mình đi xe ôm đến khu vực bến xe khách Th Nguyên cũ thuộc phường X, thành phố TN và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể) với giá 500.000 đồng, sau đó mang về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để bản thân sử dụng và bán kiểm lời.
Vật chứng của vụ án gồm: 03 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, ký
hiệu: A1, A2, LK và số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSĐH, ngày 12/5/2022 Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nông Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa, sau
khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự, xử phạt bị cáo từ 7 đến 8 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
+ Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1,
A2 và LK.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam thu giữ của Nông Văn T do bán ma túy mà có.
+ Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng đối với bị cáo Nông
Văn T do bán ma túy mà có.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện
kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17/01/2022, tại khu vực
ngã ba đường dân sinh thuộc xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN. Nông Văn T đang có hành vi bán cho Bùi Đức Th, sinh năm 1974, trú tại xóm MH xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN 01 gói Heroine có khối lượng 0,333g với giá 300.000 đồng thì bị tổ công tác của Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ số Heroine trên và vật chứng có liên quan. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn T tại xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng là 0,226 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.
Ngoài ra, quá trình điều tra Nông Văn T đã tự thú khai nhận nhiều lần bán
Heroine cho Bùi Đức Th, sinh năm 1974, trú tại xóm MH, xã ĐH, huyện ĐH, tỉnh TN; cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 12/01/2022 tại khu vực ngã ba đường
dân sinh thuộc xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN, T đã bán cho Bùi Đức Th 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 14/01/2022 cũng tại khu vực ngã ba
đường dân sinh thuộc xóm CM, xã VH, huyện ĐH, tỉnh TN, T tiếp tục bán cho Bùi Đức Th 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng.
Về nguồn gốc số Heroine trên là do T mua của một người đàn ông khoảng
40 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể) vào khoảng 20 giờ ngày 11/01/2022 tại khu vực bến xe khách Th Nguyên cũ thuộc phường X, thành phố TN với giá 500.000 đồng, sau đó mang về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để bản thân sử dụng và bán kiểm lời.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình như đã nêu trên. Lờ i khai nhâ ̣n tô ̣i của bi ̣ cáo phù hợp vớ i biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản, sơ đồ hiện trường khám xét; lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i cơ quan điều tra , phù hợp vớ i lờ i khai của người làm chứng, người chứng kiến; vật chứng đã thu giữ; bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh v à những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hô ̣i đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm
đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07
năm đến 15 năm:
a)…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng,....”
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối Tợng nghiện chất ma túy.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ Th độ ăn năn hối cải, quá trình điều tra bị cáo đã tự thú khai ra các lần phạm tội trước của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma túy mục đích để sử dụng
cho bản thân và bán kiếm lời, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước; tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Cơ quan điều tra thì bị cáo đang sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng, hơn nữa bị cáo là đối Tợng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình
phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, Tơng xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Vật chứng của vụ án:
- Đối với 03 phong bì niêm phong kí hiệu A1, A2 và LK (bên trong có
chứa vỏ bì và số chất ma túy còn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam thu giữ
của bị cáo khi bắt quả tang là tiền do mua bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Ngày 12/01/2022 và ngày 14/01/2022 bị cáo đã bán ma túy cho Bùi Đức
Th thu lời bất chính số tiền 500.000 đồng, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền trên đối với bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát
viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
. Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn
ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực bến xe khách Th Nguyên cũ thuộc phường Quang Trung, thành phố Th Nguyên, do không xác định được lai lịch địa chỉ cụ thể của đối Tợng trên nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
. Đối với hành vi mua ma túy để sử dụng của Bùi Đức Th, xét thấy
hành vi này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 04/5/2022 Công an huyện Đồng Hỷ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Th là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1
Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nông Văn T 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2022. Quyết định tạm giam bị cáo Nông Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn kí hiệu:
A1, A2, LK.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2022
giữa Công an huyện Đồng Hỷ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đồng Hỷ).
3. Truy thu sung quỹ Nhà nƣớc: Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn
đồng) đối với bị cáo Nông Văn T do bán ma túy mà có.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đồng Hỷ; - Công an huyện Đồng Hỷ; - Cơ quan THA hình sự - CA huyện Đồng Hỷ; - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ; - VKSND tỉnh Th Nguyên; - TAND tỉnh Th Nguyên; - Sở T pháp tỉnh Th Nguyên; - UBND xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Huy Bắc |