vanban.org

Bản án 22/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 26/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Võ Hoàng H, phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Lê Võ Hoàng H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Võ Hoàng H phải bồi thường thiệt hại về tiền tổn thất về tinh thần, danh dự nhân phẩm cho người bị hại Hồ Thị Thúy N thông qua người đại diện hợp pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu với người từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Võ Hoàng H, phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày: 26 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Dương Thắng - Hiệu trưởng Trường THCS thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Ông Lâm Ngọc Hà - cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Bé Năm- Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2022/TLST- HS, ngày 26 tháng 5 năm 2022 (theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS ngày 11/7/2022), đối với bị cáo:

Lê Võ Hoàng H, sinh ngày 22/5/2002, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh V và bà Võ Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2022 cho đến nay (bị cáo có mặt).

- Người bị hại: Bà Hồ Thị Thúy N, sinh ngày 21/5/2006; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại N: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lương Thị Ngọc H, là trợ giúp viên, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Đại diện Hội Liên hiệp phụ nữ xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng: Bà Võ Thị Hồng Y, Chủ tịch HLHPN xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng):

1. Ông Lê Thanh V, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bà Dương Thị B, sinh năm 1993; nơi cư trú:ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa bị can Lê Võ Hoàng H, sinh ngày 22/5/2002 và người bị hại Hồ Thị Thúy N, sinh ngày 21/5/2006, cùng cư trú tại: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, có mối quan hệ quen biết với nhau. Vào khoảng tháng 5 năm 2021, sau thời gian kết bạn thông qua mạng xã hội Facebook, thì giữa bị cáo và bị hại nảy sinh tình cảm yêu đương nam nữ, thường xuyên nhắn tin, gọi điện thoại với nhau để tâm sự.

Đến khoảng 11 giờ, ngày 19/11/2021, H ở nhà một mình nên điện thoại và nhắn tin bằng Messenger rủ N đến nhà chơi. Khoảng 30 phút sau, N chạy xe máy đến nhà H chơi; sau đó, H và N cùng nằm võng nói chuyện được khoảng 10 phút, thì H đi vào phòng ngủ, nên N cũng đi theo. Khi vào phòng, thì giữa H và N đã tự nguyện 01 lần giao cấu với nhau và 03 lần quan hệ tình dục khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: khi vào phòng ngủ, N nằm ngửa trên nệm, còn H thì nằm trên người của N; H dùng tay vén áo ngoài của N lên trên, sau đó dùng tay sờ vú và kéo áo ngực của N ra rồi dùng miệng, lưỡi bú, liếm vú của N. Tiếp đó, H dùng tay cởi quần của N ra khỏi chân, rồi H dùng miệng, lưỡi bú liếm âm đạo của N được khoảng 05 phút thì H nghe có tiếng xe mô tô do ông Lê Thanh V (cha của H) điều khiển dừng trước sân nhà, nên N mặc quần vào và đi ra phía nhà sau, còn H thì mặc quần vào và đi ra phía trước nhà thì thấy ông V tiếp tục điều khiển xe chạy đi.

Lần thứ hai: sau khi ông V chạy xe đi, thì H và N cùng nhau đi vào phòng; lúc này, H tuột quần của N xuống và nói với N là cho H xuất tinh trước rồi mới quan hệ tình dục sau. H đứng cạnh giường, còn N thì quỳ gối dưới nền gạch và N dùng tay xục dương vật và dùng miệng nút, bú đầu dương vật của H được khoảng 05 phút thì H xuất tinh vào miệng của N.

Lần thứ ba: Sau khi H xuất tinh, thì H và N lên giường nằm nói chuyện được khoảng 10 phút, thì dương vật của H cương cứng. Sau đó, H dùng tay cầm dương vật đưa (đút) vô âm đạo của N và quan hệ được khoảng 10 phút thì N nói đau quá nên H rút dương vật ra

Lần thứ tư: sau khi H rút dương vật ra khỏi âm đạo của N, thì lúc này N tiếp tục dùng miệng nút, bú dương vật của của H được khoảng 05 phút thì H xuất tinh vào miệng của N. Sau khi quan hệ tình dục xong, H với N nằm ôm hôn nhau, nói chuyện khoảng 05 phút thì cả hai tự mặc quần áo vào và N điều khiển xe đi về nhà, thì sự việc kết thúc.

Đến ngày 21/11/2021, bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột của N), nghi vấn H có quan hệ tình dục với N, nên bà L đưa N đến Công an xã M để trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tố giác của bà L, xét thấy hành vi của Lê Võ Hoàng H có dấu hiệu của tội phạm “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, quy định tại Điều 145 Bộ luật hình sự (do người bị hại N chỉ mới 15 tuổi 06 tháng 28 ngày), nên Công an xã M đã chuyển tố giác tội phạm nói trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 340/TgT-PY ngày 08/12/2021 của Trung tâm pháp y, thuộc Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng, kết luận đối với người bị hại Hồ Thị Thúy N:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Bộ phận sinh dục:

Hai vú: bình thường; Môi lớn, môi bé: bình thường; Âm hộ: bình thường; Màng trinh: dãn rộng, có vết rách cũ vị trí 6 giờ; Âm đạo: dãn rộng; Tầng sinh môn, hậu môn: bình thường.

2. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do bị xâm hại tình dục là 00% (không phần trăm).

3. Kết luận khác:

Test thai: âm tính”.

Đến ngày 18/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Võ Hoàng H, về “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại cáo trạng số 22/CT-VKS-CT, ngày 25/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng để xét xử Lê Võ Hoàng H, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Bộ luật Hình sự: đề nghị tuyên phạt bị cáo Lê Võ Hoàng H mức án từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Hồ Thị Thúy N và người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo Lê Võ Hoàng H phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Đến nay, bị cáo đã tự nguyện đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại Hồ Thị Thúy N.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Võ Hoàng H không đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại Hồ Thị Thúy N và bà Nguyễn Thị L là đại diện hợp pháp của bị hại số tiền trên, và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét việc bồi thường theo quy định của pháp luật. Nên đề nghị Hội đồng xét căn cứ Điều 584, 585, 592 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định của pháp luật, cụ thể 1.490.000 đồng x 10 tháng lương cơ sở = 14.900.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, đã tạm giữ: 01 tập tài liệu liên quan đến nội dung tin nhắn qua lại giữa bị cáo H và bị hại N, được đánh số thứ tự từ trang 01 đến trang 17 (có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị L và Hồ Thị Thúy N có trong hồ sơ vụ án, nên không đặt ra xem xét.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại Hồ Thị Thúy N, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tiếp tục quản lý số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa, bà Lương Thị Ngọc H, là trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có ý kiến cho rằng: Về tội danh thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Về hành vi, bị cáo lợi dụng người bị hại còn nhỏ để thực hiện hành vi giao cấu với bị hại mà người bị hại chưa đủ tuổi để nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của bị cáo, làm ảnh hưởng đến sự phát bình thường về tâm sinh lý đối với người bị hại. Về hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù là quá nhẹ mà hình phạt đối với bị cáo từ 04 năm tù mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Kiểm sát viên có ý kiến cho rằng: Về hình phạt đối với bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cho rằng Viện kiểm sát đề nghị mức án 03 năm đến 04 năm tù là quá nhẹ. Vì trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo tự nguyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho người bị hại, nên Viện kiểm sát có xem xét các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đôi với bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù là có căn cứ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của trợ giúp viên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bị cáo cùng lời khai của những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Võ Hoàng H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, bị hại, của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Thể hiện: Do có mối quan hệ tình cảm nam nữ yêu đương với nhau trước đó, nên vào khoảng 11 giờ, ngày 19/11/2021, tại nhà của ông Lê Thanh V, thuộc khu vực ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Lê Võ Hoàng H, sinh ngày 22/5/2002 (là người trên 18 tuổi) đã cố ý 01 lần thực hiện hành vi giao cấu và 03 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người bị hại Hồ Thị Thúy N, sinh ngày 21/5/2006 (là người chỉ mới 15 tuổi 06 tháng 28 ngày).

Từ những tình tiết trong vụ án cho thấy, vì muốn thỏa mãn nhu cầu tình dục, bị cáo Lê Võ Hoàng H đã cố ý 01 lần thực hiện hành vi giao cấu và 03 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người bị hại Hồ Thị Thúy N, sinh ngày 21/5/2006 (là người chỉ mới 15 tuổi 06 tháng 28 ngày). Hành vi của bị cáo Lê Võ Hoàng H là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm vào sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của bị hại N được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến danh sự, nhân phẩm của con người. Chính vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 145 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật, không oan đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phải nhận thức được hành vi giao cấu với người bị hại Hồ Thị Thúy N (là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi), là phạm tội và nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, điều đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Qua đó, cần phải xét xử bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết định khung: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Võ Hoàng H (là người trên 18 tuổi) đã cố ý 01 lần thực hiện hành vi giao cấu và 03 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người bị hại Hồ Thị Thúy N (là người chỉ mới 15 tuổi 06 tháng 28 ngày). Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì ngoài hành vi giao cấu, việc H dùng lưỡi liếm bộ phận sinh dục của N và dùng dương vật đưa vào miệng của N, đã đủ yếu tố cấu thành “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Như vậy, bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi thực hiện hành vi phạm tội Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có trình độ học vấn thấp, nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Cho nên, cần xem xét, áp dụng tình tiết nêu trên để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51 và Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Hồ Thị Thúy N và người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo Lê Võ Hoàng H phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Đến nay, bị cáo đã tự nguyện đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại Hồ Thị Thúy N.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Võ Hoàng H không đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại Hồ Thị Thúy N và bà Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền trên và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét việc bồi thường theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại, cụ thể: 1.490.000 đồng x 10 tháng lương cơ sở = 14.900.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, đã tạm giữ: 01 tập tài liệu liên quan đến nội dung tin nhắn qua lại giữa bị can H và bị hại N, được đánh số thứ tự từ trang 01 đến trang 17 (có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị L và Hồ Thị Thúy N) có trong hồ sơ vụ án, nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lê Võ Hoàng H là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Lê Võ Hoàng H, phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 299, Điều 333 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 592 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1, Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử phạt bị cáo Lê Võ Hoàng H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Võ Hoàng H phải bồi thường thiệt hại về tiền tổn thất về tinh thần, danh dự nhân phẩm cho người bị hại Hồ Thị Thúy N thông qua người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị L số tiền là 14.900.000 đồng.

4. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo còn phải trả lãi cho người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

Tiếp tục quản lý số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo khắc phục hậu quả cho người bị hại và người địa diện hợp pháp của bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành để đảm bảo thi hành án.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Võ Hoàng H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 495.000 đồng.

6. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kêt từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,7a và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ