- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Huỳnh Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày: 02 - 6 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thành
Ông Nguyễn Văn Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện CĐ, tỉnh LA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2000; Tại: LA; Nơi cư trú: ấp ĐT, xã LT, huyện CĐ, tỉnh LA; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Huỳnh Văn Tưởng và bà: Nguyễn Thị Hiệp; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 30/3/2022 đến ngày 30/11/2022 (có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Nguyễn Đức D, sinh năm: 1980 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1961 (cha ruột người bị hại - có mặt ) và Bà Lê Thị Th, sinh năm: 1960 ( mẹ ruột người bị hại); Cùng địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện B, tỉnh LA.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Th: Anh Nguyễn Minh Q, sinh năm: 1976 (vắng mặt);
Địa chỉ: 452 ấp Xoài Đôi, xã LT, huyện CĐ, tỉnh LA.
Người làm chứng: Anh Phạm Thanh S, sinh năm: 1979 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp 1, xã LK, huyện CĐ, tỉnh LA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi của bị cáo: Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 30/01/2022, Huỳnh Thanh L không có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe môtô biển số 62L1-862.68, có dung tích xi lanh 149 cm3 lưu thông trên Tỉnh lộ 835 hướng từ cầu LK, xã LK đến ngã tư Xoài Đôi, xã LT, huyện CĐ. Khi đến đoạn đường thuộc Ấp 1, xã LK, L điều khiển với tốc độ 60km/h trên phần đường bên trái. L thấy phía trước, cách khoảng 20m có 01 xe mô tô lưu thông cùng chiều. L vượt về bên trái của xe này và sau đó lấy lái sang phần đường bên phải, cùng lúc đó phía trước cùng chiều có xe mô tô biển số 55P8-6586 do anh Nguyễn Đức D điều khiển. L bấm còi và đánh lái sang trái nhưng do L chạy tốc độ nhanh và khoảng cách gần nên va chạm với xe mô tô biển số 55P8-6586 gây tai nạn trên phần đường bên phải của 2 xe. Hậu quả Nguyễn Đức D bị tử vong tại hiện trường.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 110/2021/KLGĐ ngày 14/02/2022:
1. Dấu hiệu chính qua giám định
- Máu chảy ra nhiều từ hai ống tai ngoài.
- Bầm tụ máu dưới da đầu vùng thái D bên trái.
- Vỡ lún xương hộp sọ vùng thái D trái, vỡ hố sọ giữa trái.
- Máu tụ dưới màng cứng bán cầu nảo phải, xuất huyết dưới nhện.
- Dập não thái D phải, máu tụ quanh cầu não.
2. Nguyên nhân chết: chấn thương sọ não nặng.
Căn cứ vào sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường vu ̣ tai nạn giao thông lập lúc 23 giờ 00 phút ngày 30/01/2022 giữa xe mô tô biển số 62L1-862.68 và xe mô tô biển số 55P8-6586 xác định: Hiện trường xảy ra tại trụ Km 4, Đường tỉnh 835, thuộc Ấp 1, xã LK, huyện CĐ. Mặt đường trải nhựa rộng 11,00m, có vạch S liền màu vàng chia đoạn đường ra thành hai phần đường xe chạy riêng biệt, phần đường xe chạy theo hướng từ cầu LK đến ngã tư Xoài Đôi có chiều rộng 5,20m, phần đường ngược lại rộng 5,80m, không biển báo, không đèn chiếu sáng. Chọn trụ Km 4 bên lề phải trên đường Tỉnh lộ 835 (theo hướng cầu LK đến ngã tư Xoài Đôi) làm điểm mốc cố định và chọn lề bên phải theo chiều đi từ hướng cầu LK đến ngã tư Xoài Đôi làm mép đường chuẩn để tiến hành đo đạc.
Vết cày đứt quãng ký hiệu là (1) có chiều dài 25,70m. Đầu vết cày (01) đo vào mép đường chuẩn là 2,80m và cách điểm mốc cố định là 6,40m. Cuối (01) cách lề chuẩn là 1,10m và nằm ngay đầu gác chân phía trước bên trái của xe mô tô biển số 55P8-6586. Từ đầu (1) đo theo hướng đi ngã tư Xoài Đôi 1 đoạn dài 2,20m là vết cày, ký hiệu (2).
(2) bị đứt quãng, có chiều dài 33,20m. Đầu vết cày (2) đo vào mép đường chuẩn 3,70m, cuối (2) đo vào mép đường chuẩn là 6,30m, cuối (2) nằm ngay gác chân phía trước bên trái của xe mô tô biển số 62L1-862.68. Từ đầu (2) đo theo hướng đi ngã tư Xoài Đôi đến tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 55P8-6586 dài 23,60m. Xe mô tô biển số 55P8-6586, ký hiệu (3).
(3) ngã về bên trái, đầu xe hướng về mép đường chuẩn, đuôi xe hướng ngược lại, tâm trục bánh xe trước (3) đo vào mép đường chuẩn là 0,40m, tâm trục bánh sau (3) đo vào mép đường chuẩn là 1,60m. Từ tâm trục bánh xe sau (3) đo theo hướng đi ngã tư Xoài Đôi đến đầu bàn chân phải của nạn nhân Nguyễn Đức D là 0,90m. Nạn nhân Nguyễn Đức D, ký hiệu là (4).
(4) nằm ngữa, đầu của (4) hướng về ngã tư Xoài Đôi, hai chân hướng về cầu LK, đầu bàn chân phải (4) đo vào mép đường chuẩn là 2,40m, đỉnh đầu (4) đo vào mép đường chuẩn là 1,30m. Từ đầu bàn chân phải (4) đo theo hướng đi ngã tư Xoài Đôi đến tâm của vết máu dài 2,80m. Vết máu, ký hiệu (5).
(5) có kích thước 0,40m x 0,60m, tâm của (5) đo vào mép đường chuẩn là 4,90m. Từ tâm (5) đo hướng về ngã tư Xoài Đôi đến tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 62L1-862.68 là 9,30m. Xe mô tô biển số 62L1-862.68, ký hiệu (6).
(6) ngã về bên phải, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn, đầu xe hướng ngược lại. Từ tâm trục bánh xe trước (6) đo vào mép đường chuẩn là 6,90m, trục bánh sau xe (6) là 5,60m.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo bị truy cứu về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng, không oan sai. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép, không ai bức cung nhục hình; Bị cáo không có ý kiến về Kết luận giám định pháp y, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo và gia đình của bị hại tự nguyện thỏa thuận, khắc phục bồi thường tổng số tiền 160.000.000 đồng. Bị cáo khai đã nộp hồ sơ đăng ký thi cấp bằng lái. Do dich bệnh covid nên bị cáo kỳ thi sát hạch bị trì hoãn, vì muốn đi rước bạn nên bị cáo điều khiển xe môtô biển số 62L1-862.68, có dung tích xi lanh 149 cm3 lưu thông trên Tỉnh lộ 835 hướng từ cầu LK, xã LK đến ngã tư Xoài Đôi, xã LT, huyện CĐ khi không có giấy phép lái xe hạng A1 và vượt xe không đảm bảo dẫn đến va chạm xe anh D, làm anh D tử vong. Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại, xin tha thứ lỗi của bị cáo.
Ông Nguyễn Văn M trình bày: Anh D là con ruột của ông. Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 30/01/2022, D điều khiển xe mô tô biển số 55P8-6586 đi rước bạn trong tình trạng đã có uống rượu. Sau đó ông nghe tin D bị tai nạn và tử vong. Sau khi anh D tử vong, bị cáo và gia đình ông đã tự nguyện thỏa thuận, khắc phục bồi thường tổng số tiền 160.000.000 đồng. Bị cáo và gia đình bị cáo nhiều lần đến viếng thăm. Ông M không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, kể cả tổn thất về tinh thần, không yêu cầu xử lý hình sự bị cáo. Tại phiên tòa ông đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo do bị cáo còn trẻ, cần cơ hội để sửa sai cũng như để bị cáo tiếp tục làm việc, lo cho gia đình.
Anh Nguyễn Minh Q đại diện cho bà Th có lời trình bày tại cơ quan điều tra: Bà Th là mẹ ruột của bị hại Nguyễn Đức D. Sau khi anh D tử vong, bị cáo và gia đình bà Th đã tự nguyện thỏa thuận, khắc phục bồi thường tổng số tiền 160.000.000 đồng. Nay bà Th không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, kể cả tổn thất về tinh thần, không yêu cầu xử lý hình sự bị cáo.
Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 13/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA truy tố bị cáo Huỳnh Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Huỳnh Thanh L đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và gia đình bị hại có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Gia đình người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét đề cập.
Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, việc bị cáo bị truy tố về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là không oan, không sai; bị cáo không có ý kiến về tội danh và hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để được tiếp tục làm việc.
Ý kiến của ông M: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo L được hưởng án treo.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình anh D. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo án treo để được tiếp tục làm việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét nội dung vụ án: Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 30/01/2022, Huỳnh Thanh L không có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe môtô biển số 62L1-862.68, có dung tích xi lanh 149 cm3 lưu thông trên Tỉnh lộ 835 hướng từ cầu LK, xã LK đến ngã tư Xoài Đôi, xã LT, huyện CĐ. Khi đến đoạn đường thuộc Ấp 1, xã LK, L không tuân thủ luật giao thông đường bộ, điều khiển vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 55P8-6586 do anh Nguyễn Đức D điều khiển dẫn đến hậu quả D tử vong.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn do L đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ.
Khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm:
“9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.
Khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định:
“Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
…”.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
…”
Như vậy, hành vi của bị cáo Huỳnh Thanh L đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; bị cáo vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bà nội của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; đại diện người bị hại có đơn đề nghị không xử lý hình sự với bị cáo; người bị hại có một phần lỗi (nồng độ cồn vượt quá quy định 177,74mg/100ml ); đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình Sự. Vì vậy, cần ấp dụng Điều 54 của Bộ Luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo sức răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên thấy bị cáo đang có việc làm ổn định, vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự; đại diện người bị hại tha thiết xin cho bị cáo hưởng án treo và xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP: Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và nơi làm việc ổn định, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự; và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo môi trường tốt để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống nên áp dụng Điều 65 của Bộ Luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo.
Xét trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại xác định phần trách nhiệm dân sự đã thỏa thuận xong, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, không đề cập.
Về vật chứng, tang vật của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có tạm giữ và đã trả lại xe cho chủ sở hữu là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thanh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
Bị cáo Huỳnh Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Huỳnhanh Th L: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thứ thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/6/2022.
Giao bị cáo Huỳnh Thanh L cho Ủy ban nhân dân xã LT, huyện CĐ, tỉnh LA theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo L) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo (bị cáo L) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thanh L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt (bà Th) có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh LA (01b);
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh LA (01b);
- VKSND huyện (01b);
- CQĐT Công an cấp huyện (01b);
- Chi cục THADS huyện (01b);
- Bị cáo (01b);
- Các đương sự (01b);
- Lưu hồ sơ, án văn.
Huỳnh Hữu Nghĩa
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án Q sự khu vực thì ghi tên Tòa án Q sự khu vực gì thuộc Q khu, Q chủng nào; nếu là Tòa án Q sự Q khu, Q chủng thì ghi tên Tòa án Q sự Q khu, Q chủng (ví dụ: Tòa án Q sự Q khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán...,đối với Hội thẩm nhân dân (Q nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (Q nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân(Q nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (Q nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (Q nhân). Nếu vụ án do Tòa án Q sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc Q hàm.
(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tênKiểm sát viênthực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ h ọ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họtên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự;nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhâncó liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sựvà những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |