- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ngô Thị Bé E và ông Phan Đỗ Minh Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn " của bà Ngô Thị Bé E đối với ông Phan Đỗ Minh Q.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày: 12/9/2022 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
Ông Huỳnh Bá Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phương- Thư ký TAND quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Trường Giang- Kiểm sát viên.
Ngày 12/9/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 11A/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/8/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 16A/2022/QĐST-HPT ngày 22/8/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Bé E- Sinh năm: 1987- Địa chỉ: K356/H20/03 đường N, phường M, quận N, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Phan Đỗ Minh Q, sinh năm 1984. Địa chỉ: K01/05 đường Đ, phường H, quận N, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Ngô Thị Bé E trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Bé E và ông Phan Đỗ Minh Q xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận S, Tp Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống với cha mẹ chồng tại K01/05 Đ, tổ 11 phường H, quận Nbà E, Tp. Đà Nẵng. Chung sống đến năm 2019 thì giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, từ đó đến nay ông Q thường xuyên gây gỗ, xúc phạm và có hành vi bạo lực với bà. Mâu thuẫn của ông bà đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Ông Q và bà E đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm của bà E đối với ông Phan Đỗ Minh Q không còn, do đó bà xin được ly hôn với ông Phan Đỗ Minh Q.
- Về quan hệ con chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định bà và ông Phan Đỗ Minh Q có 03 con chung là: Phan Quỳnh H- Sinh ngày: 23/02/2009; Phan Minh Thiện N- Sinh ngày: 24/6/2015; Phan Bảo T- Sinh ngày: 09/4/2018. Ly hôn, bà Ngô Thị Bé E có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Phan Bảo T cho đến khi con đủ 18 tuổi; giao con Phan Quỳnh H và Phan Minh Thiện N cho ông Phan Đỗ Minh Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định không có.
- Về nợ chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định không có.
* Đối với bị đơn – ông Phan Đỗ Minh Q: Mặc dù đã được Tòa án đã giao hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Phan Đỗ Minh Q đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi nên không ghi nhận được ý kiến của ông về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật, riêng bị đơn ông Phan Đỗ Minh Q không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị Bé E đối với ông Phan Đỗ Minh Q.
- Về quan hệ con chung: Áp dụng điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung Phan Quỳnh H- Sinh ngày: 23/02/2009; Phan Minh Thiện N- Sinh ngày: 24/6/2015 cho ông Phan Đỗ Minh Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; giao con Phan Bảo T- Sinh ngày: 09/4/2018 cho bà Ngô Thị Bé E được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Do bà Ngô Thị Bé E không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định không có.
- Về nợ chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định vợ chồng không có.
Tại phiên tòa ông Phan Đỗ Minh Q vắng mặt nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này, nếu có tranh chấp các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe các đương sự trình bày ý kiến; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án, HĐXX nhận định:
Về thủ tục: Đơn khởi kiện của bà Ngô Thị Bé E nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Phan Đỗ Minh Q là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Phan Đỗ Minh Q vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Bà Ngô Thị Bé E và ông Phan Đỗ Minh Q đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại UBND phường Đ, quận S, Tp Đà Nẵng theo giấy chứng nhận kết hôn số: 129, cấp ngày 07/8/2008. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống tại nhà cha mẹ của ông Q tại K01/05 Đ, phường H, quận N, Tp. Đà Nẵng. Chung sống đến năm 2019 thì giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, từ đó đến nay ông Q thường xuyên gây gỗ, xúc phạm và có hành vi bạo lực với bà. Mâu thuẫn của ông bà đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Ông Q và bà E đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay bà Ngô Thị Bé E xác định không còn yêu thương ông Phan Đỗ Minh Q nữa, bà xin được ly hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị Bé E đối với ông Phan Đỗ Minh Q thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa bà Ngô Thị Bé E và ông Phan Đỗ Minh Q lại không làm được điều này. Khi mâu thuẫn xảy ra hai bên không tìm được cách giải quyết đề hàn gắn và xây dựng gia đình. Qua xác minh tại địa phương thì được biết hiện tại bà E và ông Q không còn chung sống với nhau hơn một năm nay. Về phía ông Phan Đỗ Minh Q, Tòa án đã tạo điều kiện nhiều lần để vợ chồng hòa giải mâu thuẫn, trở về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng ông Phan Đỗ Minh Q đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Việc này cho thấy ông Phan Đỗ Minh Q không tôn trọng Tòa án và thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy, mâu thuẫn của bà Ngô Thị Bé E và ông Phan Đỗ Minh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Bé E đối với ông Phan Đỗ Minh Q là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định bà và ông Phan Đỗ Minh Q có 03 con chung là: Phan Quỳnh H- Sinh ngày: 23/02/2009; Phan Minh Thiện N- Sinh ngày: 24/6/2015; Phan Bảo T- Sinh ngày: 09/4/2018. Ly hôn, bà Ngô Thị Bé E có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Phan Bảo T cho đến khi con đủ 18 tuổi; giao con Phan Quỳnh H và Phan Minh Thiện N cho ông Phan Đỗ Minh Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu của bà E về việc nuôi con chung thì thấy: Việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của con, đảm bảo được sự phát triển của con cả về thể chất lẫn tinh thần. Từ khi ông bà ly thân cho đến nay, cháu Phan Bảo T được bà E chăm sóc, nuôi dưỡng, còn cháu Phan Quỳnh H và Phan Minh Thiện N do ông Q chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặc dù nguyện vọng của cháu Phan Bảo T muốn ở cùng với mẹ, nhưng do hoàn cảnh khó khăn, công việc không ổn định nên bà E vẫn muốn giao con Phan Quỳnh H cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng để cho cháu có đủ điều kiện phát triển toàn diện. Hiện tại, các cháu đã ổn định cuộc sống và môi trường học tập nên cần chấp nhận yêu cầu của bà E về việc nuôi con chung như trên là phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp với điều kiện kinh tế, phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Do bà E không yêu cầu nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định không có.
Về nợ chung: Bà Ngô Thị Bé E xác định không có.
Ông Phan Đỗ Minh Q vắng mặt nên không ghi nhận được kiến của ông về tài sản chung và nợ chung. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng bà Ngô Thị Bé E phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn " của bà Ngô Thị Bé E đối với ông Phan Đỗ Minh Q.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Ngô Thị Bé E được ly hôn ông Phan Đỗ Minh Q.
Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Bé E đối với ông Phan Đỗ Minh Q nên giấy chứng nhận kết hôn số 129 UBND phường Đ, quận S, Tp Đà Nẵng cấp cho bà Ngô Thị Bé E và ông Phan Đỗ Minh Q ngày 07/8/2008 không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Phan Quỳnh H- Sinh ngày: 23/02/2009 và Phan Minh Thiện N- Sinh ngày: 24/6/2015 cho ông Phan Đỗ Minh Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; giao con Phan Bảo T- Sinh ngày: 09/4/2018 cho bà Ngô Thị Bé E được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Án phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Ngô Thị Bé E phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Ngô Thị Bé E đã nộp tại biên lai thu số 1158 ngày 08/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Bà Ngô Thị Bé E đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; - UBND phường Đ; - Lưu hồ sơ, | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Trâm |